Bài học về tập trung nguồn lực cho các chương trình giảm tác hại (60% kinh phí dự án). Dự án đã cung cấp tới 20 triệu bơm kim tiêm, bao cao su…/năm. Trao quyền chủ động cho địa phương tiếp thị xã hội; đây là mô hình tạo nên tính bền vững của dự án, Khi dự án kết thúc, các địa phương vẫn chủ động duy trì công tác phòng chống HIV/AIDS được mà không phải ‘học làm lại”. Dự án cũng đã xây dựng được thể chế một hệ thống đánh giá của quốc gia.
Dự án phòng chống HIV/AIDS sau khi nhà tài trợ rút sẽ được lên kế hoạch chuyển giao cho Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS và Quĩ Toàn cầu bảo trợ. Sau 8 năm triển khai thực hiện, với tổng nguồn vốn tài trợ 75, 294 triệu USD, dự án đã góp phần tạo nên thành công lớn có ý nghĩa sâu sắc của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế - giảm thiểu tác hại đối với người nhiễm HIV từ 26% (năm 2005) còn 11,6% (năm 2012).
Đó là kết quả thuyết phục từ các chương trình cụ thể của dự án: chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm đối tượng nguy cơ cao; thay đổi nhận thức và tăng cường sự tham gia của các cấp chính quyền, ban, ngành; thay đổi về nhận thức và hành vi trong nhóm nguy cơ cao (nghiện chích ma túy, gái mại dâm)