Những người đo nắng, đo gió
Cũng như các đơn vị bộ đội ở Trường Sa Lớn, Trạm Khí tượng hải văn là địa chỉ nhiều nhà báo tìm đến khi đặt chân lên đảo. Xem cách sinh hoạt và tổ chức cuộc sống của các anh, khó có thể phân biệt được với đại bản doanh của những người lính, nếu không có các thiết bị máy móc chuyên dùng. Trạm trưởng Trần Văn Long mới ngoài 30 tuổi nhưng trông anh khá chững chạc. Thấy cánh báo chí chúng tôi kéo đến, Long gọi mấy anh em trong trạm cùng quây quần trò chuyện. Tất cả họ còn rất trẻ và quê ở mọi miền đất nước tụ hội về. Đình ở Trùng Khánh, Cao Bằng; Linh ở Thiệu Hóa, Thanh Hóa; Hùng ở Phú Thọ; Thương ở Phú Yên…
Người có mặt ở đây lâu nhất là 2 năm và mới ra cũng đã 6 tháng. Nhiệm vụ của họ là định kỳ theo thời gian lấy số liệu về nắng, khí áp, gió, mưa, độ ẩm… để thông báo về đất liền nhiều lần trong ngày. Long giới thiệu và bảo anh em thao tác cho chúng tôi xem hoạt động của máy đo gió Mulzô, máy đo nắng Bcamfbell… một cách thành thục.
Long cho biết, phương tiện rất quan trọng và tương đối hiện đại, song để sử dụng thành thạo, và đặc biệt là xử lý bước đầu những thông tin do máy móc cung cấp đòi hỏi anh em phải có kinh nghiệm nhất định. Vì vậy số cán bộ đã làm việc ở đây lâu vừa trực tiếp vận hành máy móc, vừa phải kèm cặp số anh em mới ra thay thế trước khi trở về đất liền. Thông tin từ các trạm ở Trường Sa giúp cho việc dự báo thời tiết biển có độ chính xác cao hơn, đặc biệt là những đợt áp thấp hình thành từ ngoài biển Đông.
Một góc đảo An Bang nhìn từ ngọn hải đăng.
Hàng ngày, ở đất liền, mỗi khi chúng ta ngồi trước màn ảnh nhỏ hay theo dõi radio với bản tin dự báo thời tiết các vùng trong cả nước, chắc hẳn rất ít người biết rằng, những bản tin đó có sự đóng góp không nhỏ của những cán bộ, kỹ thuật viên ở đây. Họ sống và chấp nhận hy sinh những riêng tư như những người lính.
Trạm trưởng Trần Văn Long đăng ký ra đảo một năm, nhưng do yêu cầu công tác chắc anh phải cắm chốt ở đây 3 năm mới về đất liền. Long tâm sự, khi ra đảo cậu con trai mới 5 tháng tuổi, nay cháu đã hơn 20 tháng và mỗi khi điện về, có thể nói chuyện với bố. Long bảo đi xa thế này thương vợ con lắm, nhưng biết làm thế nào được, trước hết phải vì nhiệm vụ. Không riêng anh mà tất cả anh em ở trạm và bao người lính đảo đều vậy. Họ tạm gác tình cảm riêng tư, vì nhiệm vụ, vì biển đảo yêu thương của Tổ quốc.
Nghiên cứu thủy sinh giữa biển khơi
Chiếc xuồng CQ (xuồng chủ quyền) đưa chúng tôi rời khỏi đảo chìm Đá Tây, lượn một vòng phía Bắc rồi cập cầu tàu phía
Ngay lối bước lên, chúng tôi bắt gặp đám rau sam rất xanh. Một cán bộ trên đảo giới thiệu hóm hỉnh: "Thưa các bác, đây là rau ngàn thu đấy". Thấy chúng tôi tò mò với cái tên nghe lạ tai, anh giải thích, sở dĩ gọi như vậy vì giống rau sam này chịu được sự khắc nghiệt của thời tiết và sóng biển. Đây là thức ăn quan trọng của anh em ở trạm.
Nuôi cá thí điểm tại khu vực đảo Đá Tây.
Đội trưởng Lê Văn Lâm mời mọi người vào "phòng khách" của đơn vị và báo cáo một vài nét về hoạt động của trạm. Ngoài việc nghiên cứu nuôi cá nước biển, trồng tảo, các anh cũng có nhiệm vụ góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Bên cạnh đó trạm còn hỗ trợ cho người dân khi đánh bắt hải sản gặp khó khăn. Thời gian qua, nhiều lần người dân đi biển đã được các anh giúp đỡ nước ngọt, rau xanh, thuốc chữa bệnh...
Anh mời chúng tôi tham quan khu nuôi cá và ra thắp hương bia chủ quyền trên đảo. Tôi hiểu đây là nghi thức thiêng liêng với mọi người mỗi khi đặt chân lên vị trí này. Chuẩn Đô đốc Nguyễn Cộng Hòa, Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân đã đến đây nhiều lần. Ông săm sái đưa chúng tôi đến khu đặt bia chủ quyền. Không đồ sộ, hoành tráng, nhưng nhà bia được xây gọn gàng, trang trọng.
Cắm nén nhang trong nhà bia, tôi thật sự xúc động với cảm giác lâng lâng khó tả. Bốn câu thơ của Lý Thường Kiệt được khắc trên đá với tôi lúc này sao thiêng liêng đến vậy: "
Trước khi trở lại Đá Tây, người lái xuồng đưa chúng tôi chạy ra thăm khu đặt một số lồng cá nuôi nghiên cứu cách trạm vài kilômét. Các anh cho biết, đây là khu vực lòng hồ có độ sâu từ 30 đến 70 mét, là nơi tránh lý tưởng cho những con tàu đi biển khi gặp bão lớn. Sau mấy phút lướt trên biển, chiếc xuồng chở chúng tôi đến khu vực đặt lồng nuôi cá. Vừa giới thiệu, một cán bộ kỹ thuật vừa lấy thức ăn ném xuống. Lập tức đàn cá lao tới tranh mồi nhìn thật vui mắt. Việc nuôi nghiên cứu những giống cá giữa đại dương với môi trường trong sạch, hy vọng sẽ cho những kết quả tốt cho việc phát triển hàng loạt trong tương lai.
Mắt biển
Về đêm khi cách đảo An Bang chừng hơn chục hải lý, người ta dễ nhận ra nhờ ánh sáng từ ngọn hải đăng ở đây. Nhiều người dùng từ "mắt biển" hay "mắt đảo" để gọi những ngọn hải đăng ở Trường Sa. Để giúp cho tàu thuyền đi lại trên biển trong khu vực về đêm, Cục Hàng hải Việt
Khi chúng tôi đến, Trạm trưởng Hồ Thanh Hải, quê Hải Phòng đang chờ tàu vào đất liền. Anh đã làm việc ở trạm hải đăng này 14 tháng. Người ra thay anh phụ trách trạm là Trạm phó Bùi Văn Tiệp. Ba cán bộ của trạm là các anh Bùi Văn Sơn, Đỗ Văn Lợi, Trần Văn Hải cũng đã có mặt ở đây gần năm trời. Việc hiện diện của các anh cùng bộ đội trên đảo vừa khảng định chủ quyền của Tổ quốc, vừa kết hợp khai thác dịch vụ hàng hải.
Cán bộ Trạm Khí tượng hải văn Trường Sa Lớn ghi chép thông tin về thời tiết.
Trạm trưởng Hồ Thanh Hải có 34 năm trong nghề hàng hải và từng 10 năm gắn bó với hầu hết các trạm hải đăng ở Trường Sa như Đá Lát, Song Tử Tây, Trường Sa Lớn, Tiên Nữ và An Bang. Anh bảo nghề hàng hải đã theo anh gần hết cuộc đời và phải thường xuyên xa nhà, sống với biển đảo, nhưng các anh vẫn yêu và coi đó là cái nghiệp với mình.
Ở đảo, mọi sinh hoạt của các anh đều do Cục Hàng hải lo liệu. Cứ vài tháng một lần tàu lại đưa nhu yếu phẩm ra. Đôi khi có lúc gặp trục trặc do thời tiết thì có sự hỗ trợ của anh em bộ đội. Dù là hai đơn vị khác nhau, nhưng các anh với bộ đội trên đảo như là một. Công việc hàng ngày của các anh là duy trì hoạt động liên tục của hải đăng, bảo trì phương tiện máy móc, máy phát điện và ắc quy. Để cải thiện bữa ăn, các anh cũng tăng gia trồng rau xanh, chăn nuôi gà, lợn, chó.
Khi anh Hải đang ngồi nói chuyện với chúng tôi, một chú chó chạy từ đâu về dụi đầu vào chân anh rồi há miệng như nhờ giúp đỡ gì đó. Anh Hải xin chúng tôi dừng câu chuyện rồi quay sang ôm đầu chú chó nói rất thân mật như nói với người bạn: "Mày lại đi ăn cái gì bị dính răng chứ gì?". Anh căng miệng chú chó rồi lấy tay moi miếng kẹo cao su bị dính ở răng chú. Chú chó đã thoả mãn, húc húc đầu vào anh rồi ve vẩy đuôi chạy đi.
Cử chỉ của anh Hải khiến chúng tôi thật bất ngờ và thích thú. Anh bảo ở trạm nuôi ba chú chó có tên là vàng, xồm và trắng. Ba chú chó như những người bạn của anh em. Ban ngày các chú rất hiền lành, nhưng đêm đến thì hoàn toàn khác và thực sự là ba bảo vệ rất đắc lực. Mỗi lần thay đổi công tác đi trạm khác hay trở về đất liền, anh thường chụp ảnh ba chú chó đem theo làm kỉ niệm…
Anh Hải kể cho chúng tôi về gia đình anh và mấy anh em ở đây. Mỗi người một hoàn cảnh và đều có những khó khăn riêng, nhưng với các anh chỉ có một mục đích chung nhất là thắp sáng mãi những ngọn hải đăng. Để rồi đêm đêm, giữa biển khơi mịt mùng, những ngọn hải đăng, như con mắt của biển kia giúp cho những con tàu qua lại khu vực an toàn.
* * *
Khi những dòng viết này xuất hiện trên trang báo Xuân, có thể trong số những người tôi nhắc đến đã trở về đất liền nhận nhiệm vụ mới, và ngày xuân các anh đang sum vầy cùng gia đình. Những đồng đội thay các anh đang làm công việc bấy lâu các anh vẫn làm là đo gió, đo nắng, thắp sáng những ngọn đèn biển để chỉ đường cho các phương tiện đi lại… Các anh không có điều kiện đón Tết cùng người thân nơi đất liền, nhưng công việc lặng thầm của các anh đang đem mùa xuân, hạnh phúc và cả niềm tin đến với mỗi người con đất Việt. Chúc các anh thêm một mùa xuân thật hạnh phúc nơi biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc