Đồng chí Lê Đức Thọ với công tác xây dựng đội ngũ trí thức

Trên cương vị nhiều năm là ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Đức Thọ có vai trò quan trọng đối với công tác cán bộ của hệ thống chính trị nước ta nói chung, công tác xây dựng đội ngũ trí thức nói riêng.

Người đánh giá đúng đắn, sáng tạo vị trí, vai trò của trí thức trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Đức Thọ luôn quán triệt lời dạy của Người: Trừ một số rất ít những kẻ cam tâm làm tay sai cho đế quốc ngoại bang, đã là người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước.

Khi xem xét, đánh giá đội ngũ trí thức miền Nam, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: Những cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật ở miền Nam trước đây, làm việc trong bộ máy chính quyền cũ, trừ một số ít là phần tử phản động, ác ôn, cam tâm làm tay sai cho giặc Mỹ, còn lại hoặc nhiều hoặc ít đều có tinh thần dân tộc. Ngày nay khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, những anh em này cũng được giải phóng, có dịp đem hết sức lực và tài năng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chúng ta thành tâm giúp đỡ những anh em đó, tạo điều kiện để anh em làm việc, cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc, trở thành trí thức XHCN. (Đảng CSVN; Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tập 37, tr 901-902).

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trí thức là vốn liếng quý báu của Đảng và dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc cần trí thức, tiến lên CNXH càng cần nhiều trí thức, đồng chí Lê Đức Thọ nhận định: Trí thức là một bộ phận đông đảo hợp thành đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước. (Đảng CSVN; Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tập 37, tr 282).

Đồng chí Lê Đức Thọ là người luôn nhất quán với quan điểm: Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân và đội tiên phong của cả dân tộc. Vì vậy, đảng viên của Đảng không chỉ là những người ưu tú xuất thân từ công nhân, nông dân và những người lao động mà còn bao gồm những người ưu tú trong đội ngũ trí thức.

Tại Đại hội III của Đảng (1960) một trong những điều băn khoăn của đồng chí là: Ngày nay đông đảo đảng viên về trình độ lý luận chính trị chưa được nâng lên ở cần thiết. Trình độ văn hóa của 85,85% đảng viên còn ở cấp I. Sự hiểu biết về khoa học, kỹ thuật của nhiều đồng chí lại quá thấp. Vì vậy, tính tiên phong, ảnh hưởng của Đảng còn nhiều hạn chế. Trước thực tế đó, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng phải có chủ trương, biện pháp thích hợp tăng dần đội ngũ trí thức là cán bộ lãnh đạo của Đảng. Đồng chí đòi hỏi mỗi đảng viên phải ra sức khắc phục tình trạng thấp kém về chính trị, lạc hậu về văn hóa kỹ thuật, ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính sách của Đảng, văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ.

Theo đồng chí Lê Đức Thọ trước sự chuyển biến của tình hình cách mạng từ đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc sang xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn luôn xác định là kịp thời mở rộng đội ngũ của mình trong công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức.

Đồng chí Lê Đức Thọ đã phân tích thấu tình, đạt lý mặt mạnh, mặt yếu về thành phần xuất thân của đảng viên và đề ra giải pháp phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu một cách hiệu quả.

Đồng chí Lê Đức Thọ nhận xét đảng viên xuất thân từ công, nông có ưu điểm lớn là rất kiên quyết cách mạng, tư tưởng lập trường vững vàng, có mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng. Hạn chế lớn nhất của số này là nói chung trình độ lý luận và văn hóa thấp. Đảng viên xuất thân từ trí thức, tiểu tư sản có trình độ văn hóa, lý luận, có khả năng tiếp thu nhanh, nhanh nhạy với cái mới. Tuy vậy, nhìn chung số này ít thực tế, xa rời quần chúng, chưa được giáo dục, thử thách thì lập trường không vững, dễ dao động.

Từ thực tế đó, đồng chí Lê Đức Thọ đề ra giải pháp: cần khéo phối, kết hợp hai loại cán bộ đó lại để bổ sung ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhược điểm của nhau, quyết không coi khinh hoặc chỉ coi trọng một loại cán bộ nào. Đồng chí Lê Đức Thọ vạch rõ, đối với cán bộ xuất thân từ công nông, Đảng phải hết sức chú trọng bồi dưỡng họ về lý luận, văn hóa; đối với những người xuất thân từ trí thức, tiểu tư sản, lại coi trọng giáo dục tư tưởng, rèn luyện trưởng thành qua thực tế. Đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng việc kết hợp như thế chính là thực hiện khẩu hiệu: công nông hóa trí thức, trí thức hóa công nông mà Đảng đã đề ra. (Đảng CSVN; Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 21, tr 755).

Gắn kết chặt chẽ công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ với xây dựng đội ngũ trí thức

Với vị trí công tác của mình, đồng chí Lê Đức Thọ đã luận giải sáng tỏ, khúc triết mối quan hệ giữa xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ và đội ngũ trí thức. Ngay từ Đại hội III, đồng chí đã khẳng định: Quá trình xây dựng Đảng ta cũng là quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng ngày càng lớn mạnh. Trước những biến chuyển của cách mạng, Đảng ta luôn luôn có ưu điểm là kịp thời mở rộng đội ngũ cán bộ của mình trong công nhân, nông dân và tiểu tư sản, trí thức. (Đảng CSVN; Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 21, tr 750).

Một mặt Đảng chú trọng bồi dưỡng, đề bạt những cán bộ đã qua thử thách. Mặt khác, Đảng coi trọng bố trí những cán bộ trẻ, những trí thức trẻ vào cương vị lãnh đạo, kịp thời đáp ứng yêu cầu của cách mạng, khi miền Nam bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đồng chí Lê Đức Thọ nhận xét trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo có nhiều đồng chí xuất thân từ công nhân, nông dân, nhưng có rất nhiều đồng chí xuất thân từ trí thức, tiểu tư sản. Việc cấu tạo ấy là đúng đắn, nó phản ánh quá trình xây dựng Đảng, phản ánh tính chất, đặc điểm của cách mạng Việt Nam .

Khi Tổ quốc thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, đồng chí Lê Đức Thọ là người kiên trì quan điểm cần tăng cường trí thức trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị ở tất cả các cấp, các ngành. Đồng chí viết: Trong điều kiện xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước cơ cấu cán bộ trở nên phong phú và phức tạp hơn trước. Chúng ta phải xây dựng tiêu chuẩn cụ thể cả về trình độ văn hóa chuyên môn cho từng loại cán bộ ở mỗi cấp, mỗi ngành. Đồng chí yêu cầu: Phải mạnh dạn bổ sung vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý những cán bộ có trình độ khoa học, chuyên môn, nghiệp vụ đã trưởng thành qua thực tiễn. ở những cơ quan, bộ phận chuyên trách về khoa học kỹ thuật nhất thiết phải bố trí những cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật phụ trách. (Đảng CSVN; Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 37, tr 898).

Trong điều kiện mới, đồng chí Lê Đức Thọ là người sớm phát hiện ra mặt mạnh, mặt yếu của Ban Chấp hành Trung ương và đề ra giải pháp để khắc phục. Đồng chí kiến nghị với Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (năm 1982): Cần có một sự đổi mới trong Ban Chấp hành Trung ương và các cấp ủy. Để nâng cao hơn nữa chất lượng lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương về kinh tế xã hội, theo đồng chí Lê Đức Thọ: "Trong Ban chấp hành Trung ương nên có các đồng chí tham gia hoạt động từ trước cách mạng Tháng Tám, có các đồng chí tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã trải qua công tác thực tế, nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, có kiến thức về quản lý kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, có đủ tiêu chuẩn về chính trị đã đề ra". (Đảng CSVN; Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 43, tr 311). Quan điểm trên ra đời cách đây 30 năm đến nay vẫn được Đảng, Nhà nước ta vận dụng trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Việc đưa trí thức vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các cấp ủy phải chủ động, nhìn xa, trông rộng, theo quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bố trí, sử dụng đúng đắn. Đồng chí Lê Đức Thọ viết: Muốn có đủ cán bộ đức tài làm tròn mọi nhiệm vụ được giao phó, vấn đề cơ bản là phải có quy hoạch cán bộ. Quy hoạch này không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn lâu dài, không chỉ 5 năm, 10 năm mà còn xa hơn, dài hơn. Nhìn một cách tổng quát phải tạo ra nguồn cán bộ dự trữ rộng rãi ngay từ khi chiêu sinh vào các trường Đảng, các trường đại học. Từ đây, đồng chí Lê Đức Thọ xác lập vị trí vai trò của các cơ sở đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ lý luận, cán bộ quản lý, đặc biệt là Trường Nguyễn ái Quốc Trung ương.

Báo cáo về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội lần thứ V, đồng chí Lê Đức Thọ chỉ rõ: Phải xây dựng Đảng và kiện toàn các viện, các trường trực thuộc Trung ương Đảng, các Viện thuộc Viện Hàn lâm khoa học, rất coi trọng việc kiện toàn các cơ quan làm công tác lý luận, tổ chức lại hệ thống các trường Đảng, các trường quản lý, nhất là quản lý kinh tế, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp, cải cách nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập ở các trường, đổi mới chất lượng học tập. (Đảng CSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 43, trang 276).

Có thể nói, trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn đồng chí Lê Đức Thọ luôn nhìn thấy mối liên hệ biện chứng giữa công tác xây dựng Đảng với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ trí thức.

Người để lại những ấn tượng tốt đẹp, sâu sắc đối với đội ngũ trí thức

Sự quan tâm và đóng góp quan trọng của đồng chí Lê Đức Thọ trong công tác xây dựng đội ngũ trí thức nước nhà là cơ sở nảy sinh những tình cảm sâu nặng của trí thức đối với đồng chí.

Là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, kiêm Trưởng ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương, vị trí công tác này tạo nên sự gắn bó chặt chẽ giữa đồng chí với nhiều trí thức, nhân tài ngành Y.

Một lần Giáo sư Tôn Thất Tùng, chuyên gia hàng đầu về mổ gan rất cần một loại hóa chất để mổ gan khô trong khi hóa chất đó chỉ có ở Pháp. Đáp ứng yêu cầu của Tôn Thất Tùng, đồng chí Lê Đức Thọ đã giao cho người có trách nhiệm tìm cách liên hệ với sứ quán Việt Nam ở Pháp để có được loại hóa chất quý hiếm đó. Giáo sư Tôn Thất Tùng thông qua bác sĩ chăm sóc sức khoẻ đồng chí Lê Đức Thọ cảm ơn đồng chí và đề nghị tiếp: cho mua thêm một số loại thuốc nữa để chữa bệnh cho Giáo sư Đinh Công Thắng. Việc này cũng được đồng chí Lê Đức Thọ đồng ý. Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Đinh Công Thắng không bao giờ quên sự giúp đỡ kịp thời, có hiệu quả của đồng chí Lê Đức Thọ đối với mình và ngành Y tế nước nhà.

Đồng chí Lê Đức Thọ không chỉ để lại những tình cảm sâu nặng với trí thức trong nước mà nhiều trí thức Việt kiều, đặc biệt là trí thức Việt Nam tại Pháp rất quý mến, kính trọng đồng chí.

Trong lịch sử cách mạng nước ta, Hội nghị Pari về Việt Nam là Hội nghị đấu tranh ngoại giao dài ngày nhất, gay go, phức tạp nhất. Tại Hội nghị này, đồng chí Lê Đức Thọ là cố vấn đặc biệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những ngày tháng diễn ra Hội nghị Pari cũng là những ngày tháng có sự gắn bó chặt chẽ giữa đồng chí Lê Đức Thọ với bà con Việt kiều tại Pháp, trong đó có trí thức.

Đông đảo trí thức Việt Nam tại Pháp ghi nhận: Tình cảm mà đồng chí Lê Đức Thọ dành cho họ, chính là sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước. Anh em nhắc nhau: Hãy sống xứng đáng với dân tộc, cố gắng trau dồi chuyên môn, tinh thông một ngành, một nghề để khi đất nước hoàn toàn thống nhất trở về nước phục vụ.

Đồng chí Lê Đức Thọ đã đóng vai trò quan trọng trong việc sau năm 1975 nhiều trí thức Việt kiều tại Pháp về nước sinh sống, lập nghiệp trong đó có những nhà khoa học nổi tiếng như GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, đại biểu Quốc hội khóa X, Phó Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, GS.TS Nguyễn Ngọc Trân viết: Những năm tháng của Hội nghị Pari, những cuộc tiếp xúc với Lê Đức Thọ: "là một phần đặc biệt quan trọng trong vốn sống của chúng tôi, là những bài học kinh nghiệm cho công tác mà suốt cuộc đời chúng tôi khắc mãi vào tâm trí". (Nhớ về anh Lê Đức Thọ, NXB CTQG, Hà Nội, 2000, tr 265).

Cần nói thêm rằng trong lúc ốm nặng và trước khi mất, nhiều trí thức ở nước ta đã được gặp đồng chí Lê Đức Thọ, nghe đồng chí tâm sự, căn dặn những lời tâm huyết nhất. Lời nói cuối cùng mà đồng chí Lê Đức Thọ dành cho GS.TS Nguyễn Ngọc Trân là: Mình gặp cậu lần này là lần chót. Mình hôn Hồng và hai cháu. Mình gửi lời chào từ biệt những anh em trí thức quen biết. Cố gắng công tác, làm thật tốt mọi nhiệm vụ Đảng giao. Đó là tính Đảng

N.K.B.

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.