Ngày 9/7 tới đây, Công ty Quản lý tài sản Quốc gia (VAMC) sẽ chính thức đi vào hoạt động. Nhiều người kỳ vọng rằng VAMC sẽ sớm giúp thông được “cục máu đông” nợ xấu, khơi thông tín dụng cho nền kinh tế. Thế nhưng, liệu VAMC có thực sự sẽ hiệu quả? Bên lề Hội thảo Khóa đào tạo về quản lý nợ xấu, PV đã có cuộc trao đổi với TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh doanh (BDI) về vấn đề này.
Nguồn tiền sẽ quyết định tốc độ xử lý nợ xấu
PV: Thưa TS, ông đánh giá thế nào về mô hình xử lý nợ xấu và mức độ thành công của nó theo kinh nghiệm quốc tế?
TS Lê Xuân Nghĩa: Sự khác nhau về kĩ thuật xử lý nợ xấu không phải là vấn đề chính, mà quan trọng nhất là nguồn tiền nào để xử lý nợ xấu và từ đó hình thành nên các mô hình cơ bản và mức độ thành công của các mô hình khác nhau.
Có 3 nguồn tiền với 3 kịch bản khác nhau. Thứ nhất, nguồn tiền xử lý nợ xấu từ Ngân hàng Trung ương. Với mô hình này chính phủ vừa xử lý nợ xấu vừa đề phòng lạm phát, nên thời gian thường phải kéo dài, từ 4-5 năm. Các xử lý này, tín dụng mở rộng chậm, thị trường bất động sản phục hồi chậm và GDP tăng trưởng khoảng 6%/năm.
Nguồn thứ 2 là từ ngân sách, bao gồm tiền bán bớt các tài sản của nhà nước (doanh nghiệp nhà nước); vay nợ bên ngoài, hoặc vay nợ trong nước bằng trái phiếu chính phủ. Bằng cách này, nợ xấu có thể được xử lý khá nhanh, từ 2 - 3 năm; lạm phát được kiểm soát tốt hơn, tăng trưởng kinh tế có thể đạt mức cao trong một thời gian ngắn, GDP ngay lập tức tăng trưởng 8%/năm; thị trường bất động sản cũng sẽ phục hồi vững chắc hơn, nhờ phá băng tín dụng nhanh và tổng cầu phục hồi ổn định.
Thứ 3 là nguồn tiền hỗn hợp cả từ NHTW và ngân sách, cách thức này sẽ cho một kết quả trung dung giữa hai mô hình trên và thường dễ tạo được đồng thuận chính trị hơn, nhưng cũng đòi hỏi sự phối hợp chính sách tài chính và tiền tệ nhịp nhàng hơn.
Hiện Việt Nam về cơ bản cũng đang đi theo hướng một mô hình xử lý nợ xấu bằng nguồn tài chính hỗn hợp. Cụ thể là nợ xấu xây dựng cơ bản của Nhà nước nợ doanh nghiệp, doanh nghiệp nợ ngân hàng và nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước sẽ do Bộ Tài chính xử lý. Phần còn lại sẽ được xử lý bằng công ty quản lý tài sản thuộc ngân hàng thương mại, bằng dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại hoặc có thể bằng nguồn tái cấp vốn của NHTW trong những trường hợp cần thiết.
PV: NHNN kỳ vọng từ lúc VAMC hoạt động là ngày 9/7 đến cuối năm, sẽ xử lý được khoảng 40-70 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Ông đánh giá mức này có khả thi?
TS Lê Xuân Nghĩa: Đây là thách thức rất lớn. Vì đến giờ, các quy định quan trọng nhất cho hoạt động chưa được ký là quy chế nội bộ, hoạt động của công ty, quy chế về phát hành trái phiếu đặc biệt. Về tổ chức, hiện cũng đang được chuẩn bị gấp rút. Trong 5 tháng, mục tiêu là xử lý 40-70 ngàn tỷ là nhiệm vụ nặng nề, vì để các NHTM chuẩn bị trước hồ sơ, tài liệu, các biểu bảng mà họ phải làm báo cáo VAMC, cũng phải mất tới vài 3 tháng.
Doanh nghiệp được vay vốn ngay khi được mua nợ xấu “tốt”
PV: Thưa ông, sau khi NHTM bán 1 khoản nợ xấu doanh nghiệp (DN) cho VAMC. Bảng cân đối sổ sách sạch, nhưng cũng chẳng có cơ chế nào đảm bảo rằng, DN đó có thể vay được tiền của NH, vì NH cho vay lại sợ nợ xấu tiếp tục phát sinh?
TS Lê Xuân Nghĩa: Có hai hình thức xử lý nợ xấu: mua đứt bán đoạn theo giá thị trường và mua qua phát hành trái phiếu đặc biệt. Với hình thức mua đứt bán đoạn, VAMC phải chọn khoản nợ nào có thể mua được, bán được nhanh, thì sẽ mua theo giá thị trường và bằng tiền mặt. Còn khoản nào có nhiều vấn đề thì phải dùng trái phiếu đặc biệt.
Điều đặc biệt quan trọng đó là quyền lợi của DN khi VAMC mua nợ. Cụ thể, VAMC xem xét nếu DN có khả năng phục hồi, phát triển, VAMC có quyền đầu tư cho nó bằng 3 cách: biến nợ thành vốn góp và trả lại toàn bộ tài sản thế chấp, ngay lập tức DN đi vay NH được vì có tài sản đảm bảo, hơn nữa lại “ngon” vì có cổ đông là VAMC. Hai là VAMC có thể cho vay trực tiếp bằng các hoạt động đầu tư của họ: bằng tiền là vốn lưu động hoặc là đầu tư vào dự án phát triển. Thứ 3 là VAMC bảo lãnh cho họ để đi vay vốn NH.
Khảo sát khu vực DN ở Hà Nội cho thấy, rất nhiều DN hoạt động rất tốt, nhất là DN xuất khẩu giày da, bao bì, dệt may, có DN đã có hợp đồng sản xuất đến 2014 nhưng vẫn vướng vào “danh sách đen” nợ xấu nên không thể vay vốn NH. Nguyên nhân là cách đây 3 năm, có một tổng giám đốc nhảy vào kinh doanh bất động sản. Vị giám đốc này dùng tiền lãi từ hoạt động kinh doanh, một phần vay thêm NH để mua đất. Và khoản nợ xấu của công ty này lên tới 50 tỷ khi bất động sản đóng băng, đất không bán được. Tuy nhiên, phân tích kỹ, công ty này vẫn hoạt động có lãi từ ngành nghề chính là sản xuất bao bì, nhưng họ không trả nợ NH vì sợ trả xong lại không vay được vốn, do vậy, họ dành tiền vay của NH làm vốn lưu động.
Với những trường hợp này, VAMC có thể tái cơ cấu rất tốt, khoanh nợ, gia hạn, cho vay tiếp vốn lưu động, hoặc bảo lãnh cho vay vốn NH, hoặc ghi nợ xấu thành vốn góp để trả lại tài sản thế chấp.
PV: Nhưng thưa ông, có ý kiến cho rằng khó định giá thị trường của khoản nợ xấu vì không có cơ sở?
TS Lê Xuân Nghĩa: Thực ra thì Chính phủ cho phép mua theo giá thị trường là 1 cơ chế cho VAMC lựa chọn: khoản nợ nào tốt, có thể phát mãi, thậm chí có khách mua, thì VAMC trả cho NH theo giá thị trường, rồi bán lại cho khách mua. Tôi nhấn mạnh đây là những khoản nợ có khả năng phát mãi lớn, nên mới mua theo giá thị trường, còn phần lớn là mua theo giá trái phiếu đặc biệt.
PV: Vừa cho vay tài trợ trực tiếp cho DN, vừa tham gia hình thức khác, trong khi vốn điều lệ có 500 tỷ đồng, liệu có lo ngại gì về đòn bẩy tài chính mà VAMC có thể mắc phải?
TS Lê Xuân Nghĩa: Thực ra, VAMC là 1 định chế trực thuộc từ NHTW, nên có thể có những khoản vay từ NHTW để xử lý trong những trường họp cấp tài chính cho DN tốt. Ví dụ VAMC có quy định đặc biệt: khi biến nợ thành vốn góp, ngay lập tức, có thể bắt NH gốc phải mua lại toàn bộ cổ phần đấy. Điều này đặt NH đứng trước 2 tình thế: nếu đánh giá của VAMC tốt là đúng, thì NH sẽ được lợi, nếu VAMC đánh giá không chuẩn, thì NH cũng có thể gặp khó khăn.
Nhìn vào toàn bộ chức năng của VAMC của Việt Nam, thì nó giống như một NH đầu tư, tức là có đầy đủ chức năng của NH, về lâu về dài có thể VAMC trở thành NH đầu tư. Đây là điều tốt, vì lúc đó sẽ có một NH đầu tư tập trung, còn các NH khác sẽ bị rút chức năng đầu tư, chỉ huy động tiền gửi của dân và cho vay, chứ không mang tiền huy động của dân đi đầu tư, dễ sập bẫy.
PV: Xin cảm ơn ông!