Theo một điều tra mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có đến gần 80% doanh nghiệp (DN) muốn tìm đến vốn bằng hình thức vay ngân hàng (NH). Tuy nhiên trên thực tế chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng (NH), 30% khó tiếp cận và hơn 30% còn lại không thể tiếp cận được. Lý do được các DN đưa ra là thủ tục NH đặt ra "quá sức" đối với họ.
Nói cách khác, những điều kiện mà NH đưa ra thường chỉ có các DN lớn, có uy tín, thương hiệu mới đáp ứng được. Để giải bài toán thiếu vốn của DN hiện nay, các chuyên gia kinh tế cho rằng: Ngoài vốn NH, DN hoàn toàn có thể tìm vốn qua các kênh khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc gọi vốn từ các quỹ đầu tư.
Vì sao gần 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa khó và không thể tiếp cận được vốn ngân hàng
Tại buổi tọa đàm về "Giải pháp vốn cho doanh nghiệp" do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 10/5, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI cho biết: Mặc dù mức lãi suất huy động vốn của NHNN quy định đối với các NHTM là 14%/năm, lãi suất cho vay trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh xê dịch từ 17-18%/năm. Tuy nhiên, thực tế một số NHTM đã phá rào huy động vốn bằng cách nâng mức lãi suất lên 15%-19%/năm tùy vào thời điểm và số lượng tiền gửi. Việc huy động vốn với lãi suất vượt trần quy định đồng nghĩa với việc lãi suất cho vay sẽ được nâng lên từ 20-22%/năm. Một số NH còn đặt ra nhiều loại phí, khiến mức lãi suất thật các DNNVV phải vay có thể lên tới 27%. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến các DN thực sự cần vay vốn để sản xuất kinh doanh. Với mức lãi suất cao như vậy, không ít DN không dám vay vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
Cũng theo ông Vũ Tiến Lộc, mặc dù lãi suất cao như vậy nhưng không phải DN nào cũng có thể tiếp cận được với nguồn vốn vay NH. Thống kê mới nhất của Bộ Kế hoạch và đầu tư cho thấy, chỉ có khoảng 30% DNNVV tiếp cận được nguồn vốn NH, còn hơn 60% còn lại rơi vào tình trạng khó và không thể tiếp cận nguồn vốn trên. Trong khi đó, DNNVV ở Việt Nam chiếm tới 90% trong tổng số gần 250.000 DN tư nhân, lực lượng đông đảo này đã đóng góp 26% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tạo ra khoảng 49% việc làm trong khu vực phi nông nghiệp ở nông thôn và 26% lực lượng lao động trong cả nước.
Nguyên nhân của tình trạng trên là vẫn chưa có tiếng nói chung giữa NH với các DN, đặc biệt là về vấn đề cơ chế thế chấp, tín chấp trong vay vốn. NH chưa thực sự đổi mới về cách phục vụ đối tượng khách hàng này. Cơ chế tín dụng của các NH hiện nay vẫn "bê" nguyên từ quốc doanh sang áp dụng với các thành phần kinh tế khác. Nếu đặt trong bối cảnh "người người, nhà nhà lập ngân hàng" như hiện nay, khách hàng vay vốn luôn được "cưng chiều", những điều khoản vay nói chung đã cởi mở hơn trước rất nhiều, thì việc tồn tại một khoảng cách, một sự "phân biệt đối xử" giữa DN lớn và DNNVV như thế cũng có thể được xem là một nghịch lý.
"Tự cứu mình" bằng cách tìm nguồn vốn khác
Theo TS.Nguyễn Đại Lai, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển chiến lược NHNN, các DN phải tìm cách cứu mình trước khi cầu cứu tới NH bằng phương châm: Việc tạo vốn cho sản xuất, kinh doanh không nhất thiết chỉ nhìn duy nhất vào các NH.
Đồng tình với quan điểm này, ông Đỗ Ngọc Quỳnh, Tổng Thư ký Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam nhấn mạnh thêm: Trong thời gian qua, nguồn vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN chủ yếu dựa vào kênh huy động vốn từ tín dụng NH và một phần nhỏ từ phát hành cổ phiếu. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn vốn từ các NH có hạn, thị trường cổ phiếu gặp khó khăn thì việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu đang dần trở thành xu hướng mới và là sự lựa chọn ưu tiên của nhiều DN.
Cũng theo ông Đỗ Ngọc Quỳnh, từ sau thành công của đợt phát hành trái phiếu Chính phủ Việt Nam ra thị trường quốc tế vào cuối năm 2005, thị trường trái phiếu DN đã có những biến chuyển tích cực. Trước kia, các giao dịch phát hành trái phiếu DN mới chỉ thưa thớt với những giao dịch quy mô nhỏ như trái phiếu Ngân hàng Đầu tư phát triển (BIDV), Tập đoàn Điện lực (EVN), Petrolimex Việt Nam… nhưng đến nay số lượng và quy mô giao dịch phát hành trái phiếu của DN đã tăng lên đáng kể.
Cụ thể, năm 2009 có 39 giao dịch phát hành với khối lượng huy động vốn đạt gần 30.000 tỷ đồng. Năm 2010 có 45 giao dịch phát hành với tổng khối lượng vốn huy động đạt gần 45.500 tỷ đồng. Trong đó, 72% số lượng trái phiếu phát hành của năm 2009 là của các Tập đoàn tư nhân, công ty cổ phần, THNN như Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Vincom… Sự phát triển của thị trường trái phiếu trên thực tế đã phần nào giải quyết bài toán vốn cho một số ít các DN.
| DN có thể gọi vốn từ quỹ đầu tư Tại Việt Nam hiện có hàng chục quỹ đầu tư với nhiều phạm vi và chiến lược khác nhau. Vai trò của quỹ đầu tư ngoài việc cấp vốn dài hạn cho DN còn tài trợ các dự án mở rộng kinh doanh và hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chuyên nghiệp. Quỹ đầu tư được hình thành từ cơ chế tín thác. Theo đó, các nhà đầu tư có vốn nhưng không có kinh nghiệm hoặc thời gian sẽ ủy quyền cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp thực hiện dự án đầu tư để tạo ra lợi nhuận cho mình. Mỗi quỹ đầu tư có một dòng đời nhất định, khoảng từ 8-10 năm gồm 3 giai đoạn: Đánh giá từ đầu (từ 1-12 tháng); hỗ trợ sau đầu tư (3-6 năm) và rút vốn (1-3 năm). Để có thể huy động hiệu quả nguồn vốn từ các quỹ đầu tư, DN cần xác định rõ nhu cầu và phạm vi hoạt động của mình. |