Doanh nghiệp nhập khẩu "đau đầu" vì tăng tỷ giá
Ngoại trừ một số doanh nghiệp (DN) xuất khẩu được hưởng lợi từ việc tăng tỷ giá như xuất khẩu các mặt hàng nông sản (gạo, sắn, chè, cao su) và hàng dệt may... đa phần các doanh nghiệp nhập khẩu đều "kêu trời" vì tăng tỷ giá, đặc biệt là khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi mà quy mô sản xuất cũng như tiềm lực vốn thường có hạn.
Anh Đào Đức Tuấn, Giám đốc Công ty XNK Thanh Bình (Hà Nội) cho biết: Trung bình mỗi tháng, công ty anh nhập về các mặt hàng trị giá khoảng 2 triệu USD thì với lần điều chỉnh tỷ giá này, trung bình mỗi USD sẽ tăng 1.400 đồng sẽ đồng nghĩa với việc số tiền chi phí cho việc nhập khẩu hàng hóa sẽ tăng thêm gần 200.000 USD, vào khoảng trên dưới 4 tỷ đồng. Với một công ty có quy mô không lớn như của anh, số tiền phải đội lên vì tăng tỷ giá là không hề nhỏ.
Cũng theo anh Đức Tuấn, cái khó lớn nhất của các DN nhập khẩu như anh là tiền nhập hàng về thì tính bằng USD nhưng khi bán hàng cho các DN trong nước lại không được tính theo giá USD mà phải quy ra Việt
Đại diện của Công ty TNHH sữa cho tương lai (Tuyên Quang) cho biết: Tỷ giá mới khiến công ty gặp không ít khó khăn khi mà có đến 85% nguyên liệu sản xuất phải nhập khẩu. Cụ thể, khô đậu tương nhập khẩu từ Ấn Độ tăng từ 10.400 đồng/kg lên 11.300 đồng; các sản phẩm chiết xuất từ ngô, nhập khẩu từ Mỹ tăng từ 7.200 đồng/kg lên 7.800 đồng/kg… Với mức tăng này, nếu như mỗi tháng trước đây, chi phí cho nguyên liệu trung bình là 5 tỷ thì giờ nhảy lên khoảng 5,5 tỷ đồng. Việc trượt giá này sẽ khiến các DN vừa và nhỏ trong ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Để có thể cầm cự và phát triển, về lâu dài, ngoài việc "thắt lưng buộc bụng" để tiết kiệm, các DN vừa và nhỏ không có lựa chọn nào khác là phải tìm nguồn nguyên liệu trong nước để thay thế.
Với đa phần các DN sản xuất trong nước phải nhập khẩu nguyên liệu, việc ký hợp đồng mua nguyên liệu với các đối tác nước ngoài thường được thực hiện dài hơi theo quý hoặc cả năm nên khi tỷ giá bất ngờ tăng, họ khó có thể bù vào khoản chênh lệch và lại càng không thể đàm phán lại các đơn hàng đã ký. Vì thế, không ít công ty đang rơi vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan". Nếu phá hợp đồng thì sẽ đứng trước nguy cơ bị đối tác kiện. Còn nếu nhập nguyên liệu về để sản xuất thì giá thành sản phẩm sẽ đội lên nhiều lần. Không tăng giá bán, DN sẽ phải lỗ nặng. Còn nếu tăng giá bán quá cao, DN sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập.
Lãnh đạo một công ty sản xuất bánh kẹo tại Hà Nội chia sẻ: Một tuần trước khi tỷ giá tăng, công ty đã ký hợp đồng mua đường thô của đối tác từ Thái Lan trị giá gần 20 triệu USD. Tuy nhiên, với việc tăng tỷ giá cùng với lãi suất ngân hàng ngày càng cao như hiện nay, nhập nguyên liệu về sản xuất nếu vẫn bán sản phẩm theo giá cũ thì sẽ lỗ. Còn nếu tăng giá bán thì sẽ mất lợi thế cạnh tranh. Vì thế, công ty đang tính đến giải pháp "thắt lưng buộc bụng" để giảm thiểu tối đa chi phí sản xuất. Tuy nhiên, vị giám đốc này cũng bày tỏ lo ngại, biện pháp này sẽ khó có thể duy trì lâu khi mà giá điện, giá xăng dầu… đều đang rục rịch tăng.
Nhiều mặt hàng rục rịch tăng giá
Ngay sau khi tăng tỷ giá đồng USD thì các DN gas đã điều chỉnh giá bán, tăng từ 15.000-18.000/bình 12kg. Theo đó, giá gas của Petro Việt Nam bán trên thị trường hiện nay là 340.000 đồng/bình 12kg; Shell gas và Petrolimex bán trên thị trường từ 360.000 đến gần 400.000 đồng/bình 12kg. Trong khi đó, tuy mới chỉ dự báo giá thép sẽ tăng trong quý I năm 2011 nhưng trên thực tế, giá thép bán lẻ trên thị trường đã đồng loạt tăng thêm khoảng 15.000 đồng/kg, tương đương 1,5 triệu đồng/tấn.
Tương tự, mặc dù Bộ Tài chính vẫn chưa có ý kiến chính thức về việc giá sữa tăng, tuy nhiên khảo sát trên thị trường, một số nhãn sữa tại các đại lý lớn trên địa bàn Hà Nội đã đồng loạt tăng giá lên trên 10%. Riêng mặt hàng xăng dầu là chưa tăng giá mặc dù các DN kinh doanh xăng dầu liên tục "kêu trời".
Ông Bùi Ngọc Bảo, Tổng giám đốc Petrolimex cho biết: Nếu tính theo tỷ giá mới thì chênh lệch giữa giá nhập khẩu và giá bán hiện hành khiến mỗi ngày các hãng kinh doanh xăng dầu lỗ khoảng 100 tỷ đồng, riêng Petrolimex lỗ khoảng 70 tỷ đồng. Hiện mỗi ngày Petrolimex bán khoảng 25.000 lít xăng với mức lỗ 2.700 đồng một lít. Nếu sử dụng quỹ bình ổn để trợ giá thì với cả năm trích lập quỹ, số tiền này vẫn không đủ bù lỗ cho một tháng.
Ông Vương Thái Dũng, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) nhấn mạnh thêm: Một thùng dầu trước đây 100 USD nhưng tỷ giá khi đó chỉ hơn 19.500 đồng/USD, nay tăng lên 20.693 đồng/USD. Như vậy, mỗi thùng dầu phải chi thêm hơn 150 ngàn đồng (mỗi lít xăng tăng thêm hơn 900 đồng). Chi phí đầu vào tăng lên trong khi đầu ra chưa được điều chỉnh.
Trước sức ép của việc tăng tỷ giá đồng USD, đa phần các doanh nghiệp kinh doanh hàng điện tử-điện máy, điện thoại đều cho rằng việc các mặt hàng này sẽ phải điều chỉnh tăng giá là điều không thể tránh khỏi bởi phần lớn hàng hóa và linh kiện đều phải nhập khẩu. Đại diện của Siêu thị điện máy HC Giải Phóng (Hà Nội) cho biết: Giá USD biến động thì hàng điện máy không thể ngồi yên vì đa phần tivi, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa, máy ảnh, điện thoại… đều phải nhập khẩu. Ngoại trừ một số lô hàng nhập từ trước Tết sẽ không tăng giá, còn lại các lô hàng sắp nhập về sẽ được điều chỉnh.
Còn theo một đại diện của Công ty Gia Long- chuyên phân phối máy ảnh, máy tính và điện thoại di động tại Hà Nội thì từ trước đến nay, công ty chuyên bán các sản phẩm lẻ theo giá bán sỷ. Nhưng, nếu trong thời gian tới, USD tăng cao quá thì công ty cũng phải tăng giá bán lẻ nếu không muốn bù lỗ.
Đại diện của Công ty VinaPhone cho biết: Khoảng hơn 1 tuần nữa, hơn 2.000 chiếc IPhone 4 của VinaPhone sẽ được nhập về Việt Nam. Nếu thời điểm IPhone 4 về nước, giá đô la vẫn giữ mức 21.000 đồng/USD thì giá bán sẽ không thay đổi. Tuy nhiên, nếu giá đô la vượt quá mốc 21.000 thì việc tăng giá bán IPhone 4 cũng sẽ là điều khó tránh khỏi.
Tất cả những khó khăn đó hầu như các doanh nghiệp và người dân đều bị tác động. Tăng giá để giải quyết khó khăn, chắc chắn càng đẩy khó khăn nhiều hơn về phía người dân. Hơn lúc nào hết, các nhà doanh nghiệp cần đổi mới, sáng tạo nhạy bén hơn nữa… để cùng nhà nước vượt cạn, không gây "sốc" cho xã hội.
| Ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam: Đổi mới công nghệ, tiết giảm chi phí là con đường sống còn Việc điều chỉnh tỷ giá tăng ảnh hưởng rất lớn đến giá thành đầu vào của sản phẩm thép. Tuy nhiên, cái khó là khó chung cho tất cả các thành phần kinh tế khác chứ không riêng gì ngành thép, các DN phải chấp nhận thực tế ấy và tìm cách vượt khó. Thực ra thì các DN cũng đã lường trước được những bao cấp về giá điện, giá than, xăng dầu cũng chỉ là trong nhất thời. Về lâu dài sẽ phải chấp nhận giá đủ, giá đúng theo thị trường, nên họ cũng đã có chuẩn bị. Muốn tồn tại, thì giá thành phải thấp và chất lượng phải cao. Tức là hàm lượng tiêu hao phải ít đi, và không có cách nào khác là phải đầu tư công nghệ. Hiện các DN đầu tư sau năm 2005 đã chuyển đổi khá tốt như: Tổng Công ty Thép Việt Nam, Gang thép Thái Nguyên, Thép Việt, Hòa Phát… Họ đã đầu tư cải tiến mấy năm nay, công nghệ của các nước G7, G8 đã chiếm khoảng 50%, công nghệ lạc hậu đã giảm khá nhiều. Tôi cho rằng cải tiến công nghệ là cách sống còn, còn việc tìm các nguồn giá rẻ hay thị trường ngách chỉ là phần rất nhỏ. TS Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương: 2011 sẽ không có "đồng tiền dễ dãi" Với thông điệp ổn định vĩ mô để tạo lòng tin vào tiền Việt Nam, bảo vệ giá trị đồng tiền, chống lạm phát, tôi cho rằng năm 2011 sẽ không có đồng tiền dễ dãi. Các nghiên cứu đều cho rằng mức cung tiền tệ tạo áp lực lên lạm phát. Như vậy phải thắt chặt tiền tệ bằng cách thắt chặt mức cung. Trong bối cảnh phải giữ cho được ổn định tương đối của tỷ giá sau khi điều chỉnh, phải thắt chặt tiền tệ và tài khóa. Đó là bài toán khó, nhưng sẽ khiến các DN phải tự thay đổi mình, tiết giảm chi phí. Lẽ ra được đầu tư 5 để có 1 đồng lợi nhuận, nguồn vốn khó khăn sẽ khiến người ta buộc phải vận động, phải sáng tạo để tồn tại, để chỉ 3, 4 đồng đầu tư có thể thu lại 1 đồng lợi nhuận. Từ trước đến nay, tăng trưởng của Việt Nam dựa quá nhiều vào tỷ lệ đầu tư cao, tăng trưởng tín dụng trung bình từ 2003 đến nay là 33%/năm, sẽ khó giữ ổn định và không khuyến khích người ta tăng trưởng dựa vào hiệu quả. Năm nay, chỉ những DN thực sự biết kinh doanh mới có thể làm ăn có lãi. Cái khó sẽ ló cái khôn. Dù đúng là thắt chặt tiền tệ, lạm phát cao thì lãi suất cao, nhưng về mặt kỹ thuật chúng ta có thể có những điều chỉnh trong nội tại hệ thống ngân hàng, thị trường tiền tệ, để lãi suất cao nhưng không phải quá mức cần thiết. Vũ Hân |