Được Quốc hội phê chuẩn chức vụ Thống đốc NHNN từ tháng 8/2011 và chỉ 3 tháng sau, ông được cử tri đánh giá là người trả lời chất vấn ấn tượng. Cùng các động thái mạnh tay xử lý sai phạm trong hoạt động ngân hàng (NH), cuối 2011, một tờ báo mạng dựa trên ý kiến độc giả bình chọn Thống đốc Nguyễn Văn Bình là “nhân vật của năm”. Ông là người có nhiều đóng góp quan trọng vào kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2011.
Năm 2011, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống NH đạt 12% - 13%, đây là mức thấp nhất trong suốt quá trình đổi mới của nền kinh tế. Trung bình 10 năm qua (2000 – 2011) tăng trưởng tín dụng NH là 29,4%; 5 năm gần đây (2006 – 2011) con số này là 33%. Việc “thắt lưng buộc bụng” của ngành NH trong năm 2011 là thực sự khó khăn đối với doanh nghiệp và bản thân các NH, nhưng đã góp giúp kiềm chế lạm phát. Nhiều người đặt câu hỏi giả định rằng nếu năm 2011 tăng trưởng tín dụng của hệ thống NH cũng ở mức 29,4% hoặc 33% thì lạm phát sẽ ở mức nào. Ông Bình cho biết nếu với mức tăng dư nợ như vậy thì lạm phát sẽ ở mức 25% đến 27%. Như vậy có thể thấy rằng hoạt động tín dụng NH đã có đóng góp rất quan trọng vào kiềm chế lạm phát của Việt
Khi được hỏi điều gì đã khiến thời điểm năm 2011 phải đặt ra vấn đề tái cơ cấu hệ thống NH, vị tân Thống đốc khẳng định: “Việt Nam không bị thúc ép phải cải cách, cơ cấu lại hệ thống tài chính, NH do bị rơi vào khủng hoảng như đã từng thấy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Nói cách khác, chủ trương cơ cấu lại NH, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) được Đảng và Chính phủ chú trọng nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đời sống kinh tế đang vận động và phát triển nhanh”.
- Phải có cơ sở để đưa ra khẳng định trên chứ, thưa Thống đốc?
Tất nhiên, cùng với sự phát triển nhanh về quy mô, các TCTD hiện nay đang tiềm ẩn những yếu kém, rủi ro nhất định như rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản khá cao. Đi cùng với đó là tính ổn định cũng như hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh chưa cao. Nguyên nhân của những yếu kém này xuất phát từ những yếu tố khách quan như kinh tế vĩ mô trong nước, ngoài nước kém ổn định, hệ thống doanh nghiệp nhiều yếu kém, khuôn khổ thể chế còn bất cập,… và yếu tố chủ quan như năng lực quản trị, điều hành, tài chính, trình độ cán bộ và công nghệ nhiều hạn chế,…
Trong suốt thời gian dài vừa qua, Đảng và Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD ra đời và phát triển nhanh, nhưng chất lượng, hiệu quả hoạt động của các TCTD chậm được cải thiện, nhiều yếu kém không được xử lý kịp thời, triệt để. Các TCTD hoạt động thiếu công khai, minh bạch. Nguyên tắc thị trường trong hoạt động NH không được đề cao. Khuôn khổ pháp lý chậm được đổi mới và hoàn thiện theo yêu cầu thực tiễn.
Những yếu kém hiện nay của một bộ phận TCTD không được xử lý kịp thời có thể tác động bất lợi đến ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính quốc gia. Quy mô dư nợ tín dụng và tài sản của hệ thống các TCTD đã vượt xa GDP làm cho hệ thống các TCTD dễ bị tổn thương từ những thay đổi bất lợi của nền kinh tế, ngược lại sự bất ổn của hệ thống các TCTD cũng sẽ tác động lớn đến sự ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, cơ cấu lại hệ thống các TCTD là yêu cầu cần thiết để lành mạnh hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các TCTD, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Vậy, mục tiêu tái cơ cấu hệ thống TCTD lần này thực hiện theo hướng nào, thưa ông?
Mục tiêu tái cơ cấu hệ thống TCTD lần này nhằm hướng tới đến năm 2020 phát triển được hệ thống các TCTD đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình, có khả năng cạnh tranh lớn hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị NH tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động NH nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ tài chính, NH của nền kinh tế. Trong giai đoạn 2011-2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các TCTD; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các TCTD; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất 1-2 NHTM có quy mô và trình độ tương đương với các NH trong khu vực.
Theo đó, các TCTD Việt Nam sẽ được cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị và sở hữu bằng các hình thức, biện pháp và lộ trình thích hợp. Chính phủ kiên quyết không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động NH ngoài tầm kiểm soát trong quá trình cơ cấu lại hệ thống TCTD.
- Để cải cách nhanh, triệt để theo ông cần yếu tố gì?
Kinh nghiệm của các nước cho thấy muốn cải cách nhanh, triệt để hệ thống NH thì Chính phủ phải đóng vai trò quyết định thông qua các biện pháp can thiệp về chính sách, nguồn lực tài chính, đồng thời phải khuyến khích được sự tham gia của khu vực tư nhân vào quá trình cơ cấu lại hệ thống NH. Cải cách bao giờ cũng kèm theo chi phí kinh tế. Để hệ thống NH phát triển an toàn, hiệu quả bền vững sau cơ cấu lại thì cơ cấu lại tài chính là quan trọng, nhưng cơ cấu lại quản trị, hoạt động và kể cả khuôn khổ thể chế là yếu tố quyết định.
Thông thường, thời điểm được coi là hợp lý để cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng là khi nền kinh tế có mức lạm phát tương đối thấp để tạo dư địa cho sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ và NHTW vào hệ thống tài chính - ngân hàng. Trong thời điểm hiện nay, việc cơ cấu lại hệ thống TCTD ở Việt
- Nói về khó khăn của việc cơ cấu lại hệ thống TCTD, ngoài áp lực lạm phát, theo ông còn yếu tố nào khác?
Vẫn còn tồn tại những yếu tố có thể gây bất ổn vĩ mô. Nguồn lực của Chính phủ hạn chế do thâm hụt ngân sách lớn, nợ công đã ở mức cao và đang tăng nhanh. Các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ tập trung kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Khuôn khổ pháp lý cho việc cơ cấu lại doanh nghiệp, tài chính, NH chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, đặc biệt là vấn đề phá sản, quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tài chính. Kinh tế, tài chính thế giới diễn biến không thuận lợi. Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu có nguy cơ trở thành cuộc khủng hoảng tài chính tác động bất lợi đến hệ thống NH trong nước.
- Tâm lý người dân là một yếu tố quan trọng, liệu có ảnh hưởng gì không, thưa ông?
Tâm lý người dân không ổn định dễ phản ứng thái quá nếu không được định hướng đúng đắn và tuyên truyền đầy đủ về các chủ trương, chính sách cơ cấu lại NH.
- Vậy, NHNN sẽ đề xuất với Chính phủ các gói giải pháp đồng bộ nào để cơ cấu lại các TCTD?
Để thực hiện được các mục tiêu, định hướng nêu trên, NHNN đã nghiên cứu và đề xuất gói giải pháp đồng bộ cơ cấu lại các TCTD gồm 6 nội dung. Trước hết, NHNN khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại NH theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật...
Các TCTD cần được đánh giá, phân loại thành TCTD lành mạnh, TCTD thiếu thanh khoản tạm thời và TCTD yếu kém. Các TCTD lành mạnh được tạo điều kiện phát triển về quy mô và năng lực cạnh tranh trong nước, quốc tế. Các TCTD yếu kém, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn hệ thống cần được ưu tiên tái cơ cấu để trở lại thị trường hoạt động theo các chuẩn mực, quy định của pháp luật. Nếu TCTD yếu kém không thể phục hồi được thì phải được kiên quyết đưa ra khỏi thị trường một cách có trật tự để bảo đảm kỷ luật thị trường và sự lành mạnh, an toàn của hệ thống TCTD.
Trong quá trình cơ cấu lại hệ thống TCTD, đặc biệt là xử lý những TCTD yếu kém, các NHTMNN và các NHTMCP lành mạnh sẽ là lực lượng chủ lực tham gia tích cực với sự hỗ trợ thích hợp của Chính phủ và NHNN về cơ chế, chính sách và nguồn lực để thực hiện. Đây cũng là đặc trưng riêng phản ánh tính hệ thống chặt chẽ của các TCTD. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa Chính phủ và NHNN “bao cấp” toàn bộ cho việc cơ cấu lại TCTD. Tổn thất và chi phí trong quá trình xử lý yếu kém của hệ thống TCTD cần phải được chia sẻ hợp lý giữa các bên có liên quan theo quy định của pháp luật gồm: Nhà nước, chủ sở hữu, nhà đầu tư và người gửi tiền. Trong đó, chủ sở hữu NH phải chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng về những tổn thất xảy ra đối với TCTD và lợi ích của Nhà nước, tài sản của nhân dân phải được bảo vệ tốt nhất.
Ngoài ra còn một số nội dung quan trọng khác.
- Theo ông, Chính phủ và NHNN cần hỗ trợ thúc đẩy tiến trình cải cách này ra sao?
Bên cạnh các giải pháp nêu trên, Chính phủ và NHNN cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lý về hoạt động NH, bao gồm chuẩn mực an toàn và quản trị rủi ro; quy định về cấp tín dụng; quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ, chuẩn mực quốc tế... Đến năm 2015, hệ thống TCTD Việt Nam được lành mạnh hóa một bước quan trọng về tài chính và hoạt động, giảm bớt số lượng TCTD nhỏ, yếu kém và hình thành một số NHTM có quy mô lớn hơn, có khả năng cạnh tranh mạnh hơn, đặc biệt tăng cường được quy mô và vị trí chi phối của các NHTMNN trong hệ thống NH.
Quá trình củng cố, chấn chỉnh, cơ cấu lại hệ thống TCTD được tiến hành với chi phí thấp nhất, bảo đảm giữ vững sự an toàn, ổn định của hệ thống.
Xin cảm ơn Thống đốc!