Ngày 11/9, tại Hà Nội, Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức hội nghị xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các cơ quan, đơn vị về Đề án “Định giá kinh tế di sản – TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới”.
Theo Cục Di sản Văn hóa, việc lượng hóa Tổng giá trị kinh tế (TEV) không nhằm quy đổi toàn bộ giá trị văn hóa hay Giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thành tiền, mà nhằm nhận diện, đo lường những lợi ích kinh tế và phúc lợi mà hệ thống tài sản di sản tạo ra cho xã hội.
Tổng giá trị kinh tế của mỗi di sản thế giới được lượng hóa gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng bao gồm: giá trị sử dụng trực tiếp từ tham quan, du lịch, dịch vụ văn hóa, sinh thái, giáo dục, nghiên cứu, sự kiện và sinh kế cộng đồng; giá trị sử dụng gián tiếp thông qua cảnh quan, môi trường, thương hiệu lãnh thổ, sức hấp dẫn đầu tư, giá trị bất động sản, chất lượng không gian sống cùng các dịch vụ hệ sinh thái. Bên cạnh đó là giá trị lựa chọn cho tương lai và các giá trị phi sử dụng như giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền cho thế hệ sau, giá trị biểu tượng, bản sắc và giá trị tinh thần của cộng đồng.
Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới được UNESCO công nhận với đặc điểm đa dạng về loại hình, quy mô, không gian quản lý và phạm vi tác động, nhưng chưa có khung phương pháp lượng giá TEV thống nhất ở cấp quốc gia. Việc xây dựng một khung phương pháp thống nhất có ý nghĩa quan trọng trong chuẩn hóa chỉ tiêu, dữ liệu, quy trình khảo sát và cơ chế sử dụng kết quả lượng giá trong quản lý nhà nước, bảo tồn di sản và phát triển cộng đồng.
Về việc triển khai 8 đề án thành phần tại Hoàng thành Thăng Long, Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà, Quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, Thành nhà Hồ, Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn, Ban soạn thảo cho biết việc lựa chọn này nhằm kiểm nghiệm khả năng áp dụng Khung TEV đối với những loại hình, cấu trúc di sản khác nhau.
Kết quả của Đề án sẽ được tích hợp với các đầu mối quản lý nhà nước, cơ sở dữ liệu, bản đồ, hệ thống GIS và phân tích không gian. Qua đó giúp nhận diện sự phân bố của các nhóm giá trị, các khu vực có giá trị bảo tồn cao, áp lực phát triển, các điểm nóng về môi trường và rủi ro, đồng thời hỗ trợ xây dựng kịch bản phát triển và xác định ưu tiên đầu tư.
Kết quả Đề án được định hướng trở thành nguồn thông tin và căn cứ khoa học hỗ trợ ra quyết định, phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, xây dựng chính sách, đánh giá hiệu quả đầu tư, lập quy hoạch và kế hoạch quản lý, thúc đẩy phát triển kinh tế di sản theo hướng bền vững.
Tại buổi họp, dưới sự chủ trì của TS.KTS Hoàng Đạo Cương, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trưởng ban soạn thảo Đề án, các đại biểu tiếp tục tham vấn chuyên sâu về cơ sở lý luận, khung phương pháp, hệ thống dữ liệu, phạm vi triển khai và cơ chế thực hiện. Đây là cơ sở quan trọng để hoàn thiện Khung lượng hóa Tổng giá trị kinh tế di sản thế giới, bảo đảm tính khoa học, khả thi và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.