Đào tạo nhân lực cho sân khấu truyền thống

Những năm gần đây, các đơn vị nghệ thuật tuồng, chèo, cải lương, ca kịch chuyên nghiệp trong cả nước (dưới đây gọi tắt là sân khấu truyền thống) gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tiếp cận khán giả. Không chỉ vậy, sân khấu truyền thống còn phải đối mặt với khó khăn lớn khác liên quan đến sự tồn vong của các bộ môn nghệ thuật, đó chính là sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực kế cận.

Lắm nỗi gian nan

Ở khu vực phía Bắc, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội - là nơi có Khoa Kịch hát dân ca, là cái nôi chủ lực đào tạo nguồn nhân lực cho các bộ môn chèo, tuồng, cải lương, rối và nhạc công kịch hát dân tộc.

Nhưng từ năm 2013, trường này đã không còn tuyển sinh và đào tạo diễn viên tuồng do không có thí sinh đăng ký dự thi. Chỉ có bộ môn chèo truyền thống xem ra còn có đông thí sinh đăng ký dự thi hơn cả, song cũng có năm cũng chỉ có 2 thí sinh đăng ký dự tuyển khiến những người trong nghề cảm thấy bi quan, còn dư luận và các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu văn hóa cũng phải lên tiếng bày tỏ sự lo ngại.

Đội ngũ diễn viên các bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống đang bị “già hóa”.
Đội ngũ diễn viên các bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống đang bị “già hóa”.

Những con số biết nói trên đây đã tạo nên một hồi chuông báo động về nguy cơ "xóa sổ" những bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống nếu không gấp rút đào tạo được nguồn nhân lực kế cận.

Để khắc phục tình trạng này, từ vài năm trước, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã phải vào cuộc bằng cách tạo cơ chế "đặc cách" cho các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật có những quy định riêng đối với chuyên ngành có thi năng khiếu của trường mình cho phù hợp (thậm chí không còn thi môn Văn nữa mà chỉ tổ chức xét tuyển), nhằm thu hút thí sinh tham gia.

Nhưng ngay cả sau khi Chính phủ đã ban hành Nghị định 74/2013/NĐ-CP quy định bổ sung một số điều của Nghị định 49/2010/NĐ-CP về miễn giảm học phí, trong đó ghi rõ: "Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: Học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc, cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc", thì tình hình cũng không vì thế mà được cải thiện.

Theo các số liệu được công bố, những năm gần đây, các đơn vị nghệ thuật truyền thống có rất ít gương mặt nghệ sĩ trẻ được bổ sung vào các nhà hát để phục vụ việc dàn dựng vở diễn. Đội ngũ diễn viên, nhạc công tài năng, biểu diễn lành nghề hầu hết đã lớn tuổi ở các nhà hát, đoàn nghệ thuật đều xảy ra tình trạng khan hiếm tài năng trẻ.

Cụ thể, diễn viên - nhạc công ở các nhà hát có độ tuổi từ 20 đến 25 chỉ chiếm 5,6%, độ tuổi 25 đến 30 chiếm khoảng 40%. Trong khi đó, đối với các bộ môn nghệ thuật nói chung, đây mới là độ tuổi sung sức nhất, có thể có những đóng góp, tỏa sáng nhiều nhất. Nhà hát Tuồng Việt Nam từ 6-7 năm nay không có diễn viên mới được bổ sung và thực tế nhà hát này cũng thiếu biên chế: Khung của Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch cho nhà hát được tuyển tới 109 cán bộ, diễn viên, nhạc công nằm trong quỹ lương, song thực tế nhà hát chỉ có gần 90 người mà thôi!

Thấy rõ những bất cập trong vấn đề đào tạo, bổ sung lực lượng trẻ cho sân khấu truyền thống, năm 2014, Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch đã thí điểm giao việc trực tiếp tuyển sinh và thực hiện kế hoạch liên kết đào tạo giữa 4 đơn vị nghệ thuật truyền thống thuộc Bộ và Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, đó là: Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Tuồng Việt Nam, Nhà hát Cải lương Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam. Theo đó, mỗi nhà hát được tuyển chọn để đào tạo 30 học viên (riêng Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam được phép tuyển 40 học viên), bao gồm cả diễn viên và nhạc công để tạo ra nguồn lực trẻ kế cận, bù đắp vào số diễn viên nhạc công đang dần tịnh tiến đến tuổi nghỉ hưu. Số học sinh này hiện đang học năm thứ 3 (năm cuối của hệ trung cấp) được coi là nguồn lực quan trọng và một tín hiệu đáng mừng đối với các nhà hát nghệ thuật truyền thống.

Cuối năm 2015, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch Hoàng Tuấn Anh đã ký quyết định thông qua "Đề án đào tạo diễn viên, nhạc công cho các đơn vị nghệ thuật tuồng, nghệ thuật chèo, nghệ thuật cải lương và dân ca kịch chuyên nghiệp trong cả nước giai đoạn 2016 - 2020".

Sau một thời gian tổ chức thi tuyển, đến nay đã có trên 100 học sinh ở các vùng miền ở độ tuổi từ 14 đến 16 được chọn lựa để theo học các bộ môn này. Các em học sinh được "gửi" vào học tập chuyên môn tại Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, song song với việc học văn hóa để tiếp tục hoàn thiện chương trình THPT.

Điểm khác biệt là với đề án này, các em học sinh được hoàn toàn miễn phí tiền ăn, ở, học phí chứ không chỉ được miễn giảm 70% học phí như các lớp do các nhà hát chèo, tuồng, cải lương và Nhà hát Ca Múa Nhạc đã chiêu sinh. Nhưng đi kèm với ưu đãi đặc biệt này, đại diện các gia đình có con em trúng tuyển khóa đào tạo diễn viên, nhạc công nghệ thuật truyền thống phải cam kết bằng văn bản việc phối hợp với các cơ quan chức năng giáo dục các em trong quá trình học tập; cam kết sau khi hoàn thành khóa học đưa các em về công tác tại đơn vị nghệ thuật ở địa phương. Trường hợp các em không trở về công tác tại địa phương hoặc bỏ việc để theo ngành nghề khác, gia đình phải chịu trách nhiệm hoàn trả Nhà nước toàn bộ kinh phí trong suốt quá trình đào tạo.

NSƯT Thanh Ngoan - Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam: Tôi tin tưởng ở thế hệ trẻ

- Thưa NSƯT Thanh Ngoan, Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch có chủ trương giao cho các nhà hát, trong đó có Nhà hát Chèo Việt Nam được tuyển sinh để đào tạo một lớp diễn viên, nhạc công phục vụ nhu cầu tại chỗ của nhà hát; với tư cách là một nghệ sĩ và là Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam, chị gửi gắm kỳ vọng gì ở lớp diễn viên trẻ này?

+ Trước tiên phải nói rằng, với chủ trương này, không riêng gì Nhà hát Chèo Việt Nam mà các nhà hát khác đều rất vui mừng. Bởi vì, thực ra có làm chuyên môn tốt bằng mấy nhưng nếu không có công tác đào tạo nhân lực trẻ thì chúng ta sẽ không thể có được nguồn nhân lực tốt để tiếp nối, giữ nghề. Vì thế, khi được Bộ quan tâm tạo cơ chế, chúng tôi rất hồ hởi.

Với Nhà hát Chèo Việt Nam, đúng ra không phải có chức năng đào tạo, nhưng nếu kết hợp với Trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh để đào tạo thì chúng tôi sẽ có một nguồn nhân lực được "trẻ hóa".

Bởi lẽ, Trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh Hà Nội chỉ tuyển sinh đối với học sinh hết cấp 3, song với mô hình đào tạo liên kết, các nhà hát tuyển sinh từ học sinh hết cấp 2, khi ra trường các em có tuổi đời còn trẻ nên có cơ hội cống hiến được dài hơn với nghề.

Chắc chắn, sau khi tốt nghiệp với 21 diễn viên và 9 nhạc công, các em sẽ là nguồn nhân lực quan trọng bổ sung và thế hệ trẻ kế cận đang khuyết thiếu của nhà hát. 3 năm học chưa nói lên điều gì, song chúng tôi đã nhìn ra những nhân tố khả quan, đáng để hi vọng, vun xới. Sau lớp này, chúng tôi vẫn muốn xin với Bộ để tổ chức thêm được 1 lớp nữa thì mới yên tâm về vấn đề nguồn nhân lực.

- Cụ thể, Nhà hát Chèo Việt Nam đã làm những gì để hỗ trợ, động viên các em trong lớp diễn viên này khi hầu hết các em đều đến từ các tỉnh, thành ngoài Hà Nội và tuổi đời còn niên thiếu?

+ Đi tuyển lựa được 3 em học sinh từ 20 điểm tuyển của 10 tỉnh, thành là khó khăn rất lớn mà nhà hát đã vượt qua. Khi tổ chức được lớp rồi, nhà hát cũng đã bố trí nơi ăn, chốn ở cho các em tại nhà hát mà không phải mất tiền.

Nhà hát cũng thành lập một ban chủ nhiệm, tổ chức bữa ăn cho các em, tạo ra không khí sinh hoạt ấm áp như gia đình để các em yên tâm học tập và vơi đỡ nhớ nhà. Hằng ngày các em đi học 1 buổi học văn hóa cùng học sinh của Trường Xiếc và Múa, buổi còn lại học chuyên môn trong Trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh hoặc học nghề tại nhà hát.

Ngoài ra, các em có nhiều cơ hội nhận được các vai nhỏ, thường xuyên được dự các buổi tập, buổi diễn để nâng cao khả năng cọ xát và bản lĩnh sân khấu, có nhiều cơ hội trưởng thành hơn.

Hiện nay các em đang học học kỳ cuối của năm thứ 3, chuẩn bị tốt nghiệp. Để chuẩn bị cho dấu mốc quan trọng này, nhà hát đã tổ chức dàn dựng cho các em 2 vở diễn là vở mẫu "Quan âm Thị Kính" và vở "Tấm Cám" cùng một chương trình âm nhạc để đảm bảo mỗi em đều có được vai diễn, bài diễn tốt nghiệp cho mình và thử sức sáng tạo. Qua đó, chúng tôi sẽ có những đánh giá, nhận diện sau này về công tác tại nhà hát sẽ phù hợp với dạng vai nào.

- Là một nghệ sĩ trưởng thành từ mô hình liên kết đào tạo giữa nhà hát với nhà trường, giờ lại là nhà quản lý trực tiếp có những hoạt động liên quan đến vấn đề đào tạo thế hệ trẻ, chị có thể chia sẻ tâm trạng của mình khi nhìn thấy các em nhỏ phải xa gia đình để theo học chèo như hôm nay. Chị có lời khuyên nào dành cho các bạn trẻ?

+ Nhìn ra một đội ngũ kế cận sau mình, tôi cảm thấy thực sự yên tâm. Tôi an lòng khi nghĩ rằng vẫn có rất nhiều người yêu mến chèo, muốn góp phần gìn giữ bộ môn nghệ thuật truyền thống của cha ông. Nếu chúng ta có chiến lược, có cách tiếp cận, đào tạo, "truyền lửa" thì chắc chắc nghệ thuật chèo vẫn có sức sống đặc biệt của nó. Nhiều người cứ hay than thở rằng "Bao giờ cho đến ngày xưa...", nhưng tôi là người lạc quan, tôi tin tưởng ở thế hệ trẻ. Ai thì cũng từ chỗ không biết gì đến chỗ biết một chút, cùng với tài năng là sự khổ luyện thì cũng mới thành tài, tỏa sáng được. Tôi vẫn luôn tin rằng, "nghề chẳng phụ người".

- Xin cảm ơn NSƯT Thanh Ngoan!

Ông Phạm Ngọc Tuấn - Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam: Vẫn là bài toán khó!

Việc tuyển sinh, đào tạo diễn viên, nhạc công để tạo ra nguồn lực kế cận cho nghệ thuật tuồng vẫn luôn là việc làm khó khăn và nó đặc biệt khó khăn trong những năm gần đây. Cho đến bây giờ, đó vẫn là một bài toán khó chưa có lời giải.

Không phải chúng ta không biết nguyên nhân, nhưng vẫn chưa tìm ra giải pháp để giải quyết nguyên nhân ấy. Nhận thấy vấn đề nhân lực đã trở nên cấp thiết, Nhà hát Tuồng Việt Nam đã cùng với các đơn vị nghệ thuật truyền thống khác xây dựng nên đề án đào tạo nhân lực tại chỗ và đã được Bộ chấp thuận. Bộ cho chúng tôi chủ trương tuyển chọn 30 học sinh. Lúc đầu việc tuyển lựa khó khăn nên chúng tôi chỉ cố gắng để tuyển đủ chỉ tiêu.

Nhưng không ngờ, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với các Sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch, các trường phổ thông mà số học sinh chúng tôi nhận thấy đạt yêu cầu lên đến 40 em cho cả diễn viên và nhạc công. Nhưng với tuồng là một loại hình nghệ thuật khó tiếp cận, khó học nên sau hơn 2 năm học thì đã rơi rụng mất 8 em.

Có em thì vì hoàn cảnh gia đình không theo học được, có em thì không bộc lộ rõ được năng khiếu hoặc không có tiến bộ nên đã phải tạm dừng việc học. Chúng tôi cũng cảm thấy rất tiếc.

Hiện giờ còn 32 em đang học kỳ cuối chuẩn bị tốt nghiệp, chúng tôi hi vọng đây sẽ là một lực lượng trẻ đầy sức sống sẽ đem đến một làn gió tươi mới đối với nghệ thuật tuồng.

Tôi tin rằng, nếu chúng ta có chính sách hợp lý, có tính khuyến khích cao hơn nữa, như việc miễn hoàn toàn học phí đối với bậc đào tạo đại học, tiếp tục có những chính sách ưu đãi như "bao cấp trọn gói" đối với mô hình đào tạo liên kết tại nhà hát trong đề án mới của Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch vừa được Cục Nghệ thuật biểu diễn triển khai tuyển sinh năm 2016 và học được 1 học kỳ dành cho các lớp diễn viên nhạc công chèo, tuồng và năm 2017 là cải lương và kịch hát dân tộc.

Phải có những ưu đãi đặc biệt và cơ chế đặc thù thì mới bù đắp được những thiệt thòi mà các nghệ sĩ của các bộ môn nghệ thuật truyền thống gặp phải, để họ yên tâm gắn bó với nghề. Chỉ khi có đủ nguồn nhân lực, có yếu tố con người thì công cuộc bảo tồn, phát huy những giá trị đặc sắc của nghệ thuật sân khấu mới được gìn giữ, không bị mai một, thất truyền.

NSƯT Trần Văn Hải - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh Hà Nội: Có nhiều lý do khiến số sinh viên tuyển vào ngày càng ít đi

- Thưa Thạc sĩ, NSƯT Trần Văn Hải, theo ông, đâu là lý do khiến số lượng sinh viên dự tuyển vào Khoa Kịch hát dân tộc ngày càng ít đi?

+ Khoa Kịch hát dân tộc của Trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh Hà Nội hiện đào tạo các chuyên ngành diễn viên tuồng, chèo, cải lương, rối và nhạc công kịch hát dân tộc. Có thể nói, lực lượng chủ lực đang biểu diễn ở các nhà hát hiện nay đều là các cựu sinh viên của trường.

Tôi cho rằng, về mặt chính sách, Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách để ưu đãi, thu hút sinh viên theo học các bộ môn nghệ thuật truyền thống như giảm 70% học phí, các chế độ bồi dưỡng luyện tập, phục trang... Song, những năm gần đây có rất nhiều lý do khiến số sinh viên dự tuyển vào các bộ môn này ngày càng ít đi, ví dụ như vấn đề xu thế lựa chọn nghề nghiệp trong xã hội của các bạn trẻ, vấn đề đầu ra, thu nhập...

Bây giờ, các bạn trẻ thường có xu hướng lựa chọn những nghề mà khi ra trường nhanh chóng kiếm được việc làm, có thu nhập cao, có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp. Còn đối với nghề diễn viên, nhạc công của sân khấu truyền thống, vừa đòi hỏi phải có năng khiếu, việc học tập khó khăn, vất vả song khi ra trường, chuyện mưu sinh cũng rất khó khăn chưa nói đến đòi hỏi một mức thu nhập tốt.

Vì thế, không chỉ bản thân các em học sinh mà ngay phụ huynh cũng không sẵn sàng để đầu tư cho con em mình vào học các ngành này. Thực ra, đây cũng là khó khăn chung đối với tất cả các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật chứ không riêng gì Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội đâu. Về cơ bản, những năm gần đây trường đều vẫn tuyển đủ chỉ tiêu cho mỗi lớp là từ 12 đến 15 học sinh nhưng cũng có lớp chỉ có 5-7 em.

- Từng có năm, chỉ có 1-2 hồ sơ của thí sinh đăng ký dự tuyển chuyên ngành diễn viên chèo, còn ngành tuồng thì không có hồ sơ nào. Vậy Trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh Hà Nội đã làm cách nào để hằng năm vẫn chiêu sinh đủ số chỉ tiêu đã đề ra?

+ Trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh Hà Nội vẫn có nhiều khoa có đông thí sinh dự tuyển như Khoa Diễn viên Sân khấu - Điện ảnh, Khoa Múa... Rất nhiều em vào dự tuyển các khoa này nhưng không trúng tuyển.

Thông qua sơ tuyển, chúng tôi nhận thấy một số em có năng khiếu khác, có giọng nên thường giới thiệu các em qua dự tuyển ở Khoa Kịch hát dân tộc. Bởi vì nhiều em học sinh ở các vùng xa xôi cứ tưởng thi vào Trường Sân khấu - Điện ảnh là chỉ có khoa diễn viên kịch nói, diễn viên điện ảnh mà không biết rằng trường còn đào tạo cả diễn viên chèo, tuồng, cải lương, kịch hát. Nhờ thế mà nhiều em đã có cơ hội trở thành sinh viên của trường và cũng có nhiều em đã trưởng thành.

- Cách chiêu sinh có phần "vớt vát" như vậy thì liệu có kỳ vọng là tìm kiếm được các tài năng, các em có năng khiếu để nuôi dưỡng, đào tạo không thưa ông?

+ Đó chỉ là biện pháp tại chỗ thôi. Thực ra, trường vẫn áp dụng các biện pháp quảng bá để ngày càng có nhiều thí sinh biết đến các ngành đào tạo của trường hơn như tham gia "Ngày hội tuyển sinh" hằng năm, tổ chức các chương trình giao lưu, hỏi đáp về các chuyên ngành của trường trên sóng truyền hình hoặc trực tiếp đi đến các tỉnh.

Hơn nữa, trong quá trình tuyển lựa chúng tôi cũng tiến hành kiểm tra năng khiếu kỹ lưỡng lắm. Bởi lẽ, đó là các ngành học dựa trên năng khiếu, nếu không có năng khiếu thì việc học nhiều khi rất vất vả nhưng lại không đem lại hiệu quả.

- Mấy năm qua, Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch đã có chủ trương tạo điều kiện cho các nhà hát tự tuyển sinh và liên kết đào tạo với trường. Ông nghĩ sao về mô hình này?

+ Tôi cho rằng đây cũng là cách làm hay, tương đối hiệu quả, nhất là đối với việc nhân lên số người học, cũng là nhân lên cơ hội giữ gìn các bộ môn nghệ thuật truyền thống của cha ông. Nói gì thì nói, nếu không có người thực hành, người kế truyền thì không có cách gì giữ gìn và phát huy giá trị của các bộ môn nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, cải lương.

Thêm nữa, khi giao cho các nhà hát được chủ động tuyển sinh, thì có sự thuận lợi là họ biết họ cần gì, thiếu gì, cần bổ sung gì. Phương thức đào tạo phối hợp giữa nhà trường và nhà hát có nhiều ưu điểm hơn là đào tạo tại trường hoặc đào tạo riêng tại các nhà hát. Bởi vì, nếu đào tạo riêng ở trường thì sinh viên chỉ được trang bị các kiến thức mang tính lý luận là chính, thiếu đi cơ hội thực hành, cọ xát sân khấu và không có cơ hội học hỏi ở các nghệ sĩ giỏi thuộc thế hệ trước.

Còn nếu chỉ đào tạo tại nhà hát, cơ hội học nghề, truyền nghề của các em nhiều hơn nhưng khi ra nghề, các em lại không được cấp văn bằng, chứng chỉ, dẫn đến khó xếp ngạch bậc để tuyển dụng, đưa vào biên chế. Phương thức đào tạo này khiến cho các sinh viên có cơ hội được truyền nghề, hành nghề sớm, khiến nghệ sĩ trẻ vững vàng hơn khi ra trường và có nhiều cơ hội được biểu diễn hơn.

- Xin cảm ơn NSƯT Trần Văn Hải! 

Nguyệt Hà

Các tin khác

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Tin vui cho những nghệ sĩ âm nhạc dân tộc Việt Nam là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án xây dựng Dàn nhạc Dân tộc Quốc gia Việt Nam vào ngày 22/4/2026 với quyết tâm triển khai ngay trong năm nay và dự kiến tổng kết vào năm 2031. Đây là một quyết định đúng đắn (dù hơi muộn) và cho thấy rõ chủ trương đầu tư cho phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện tại.

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đẩy mạnh việc quảng bá, giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu thuộc các loại hình ca múa nhạc, kịch nói, cải lương, hát bội, xiếc, múa rối.

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Nỗi sợ lớn nhất của tôi là gì? Là không gì cả. Phần lớn thời gian của tôi được dành để nỗ lực chứng minh rằng mình đáng được nhớ đến. Làm việc chăm chỉ hơn, mơ lớn hơn, nói “có” với những cơ hội - kể cả khi chúng vắt kiệt mình.

Kiến tạo văn hóa số

Kiến tạo văn hóa số

Người viết cho rằng: AI tạo sinh có thể cắt ghép, được dựng nên những hiện thực chưa từng có theo ý muốn của chúng ta. Giờ đây, thay vì nheo mặt để nhận diện tem mác, dấu hiệu hàng fake trên hàng hóa thì đến lúc đắn đo trước những tác phẩm: Liệu bài thơ này, bản nhạc kia, bức tranh nọ... có dấu hiệu can thiệp của AI hay không? Chúng ta sống với AI hay chúng ta sống bằng AI? Một câu hỏi khó trả lời.

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Trong tháng 3/2026 vừa qua, số lượng các bản ghi âm bị từ chối phát hành qua nền tảng Tunecore của Công ty Believe đột nhiên tăng vọt. Và, tất cả những bản phát hành bị từ chối ấy đều có một điểm chung: đó là những bản nhạc được tạo ra bởi AI.

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã thành công tốt đẹp vào ngày 17/4, song báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục có nhiều bài viết đặc sắc, khẳng định quan hệ truyền thống gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc cũng như tầm nhìn, định hướng trong việc nâng tầm kết nối chiến lược giai đoạn phát triển mới.

Mệnh lệnh của niềm tin

Mệnh lệnh của niềm tin

Hôm nay, cũng như mọi ngày, tôi dậy rất sớm, ngồi bên ly cà phê và lướt nhanh trên màn hình smartphone. Có lẽ, giờ này nhiều người cũng giống tôi tìm sự khởi đầu cho ngày mới bằng việc nhật tin tức sau một đêm - nguồn năng lượng mới từ sự trong trẻo tinh khôi của thiên nhiên và sự hào hứng của tinh thần.

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Tin vui cho giới làm phim Việt là tính đến trưa 10/4, theo thống kê của Box Office Vietnam (BOVN - trang web độc lập chuyên tổng hợp, phân tích và thống kê dữ liệu doanh thu phòng vé, số lượng vé và suất chiếu trên toàn lãnh thổ Việt Nam), phim "Hẹn em ngày nhật thực" của đạo diễn Lê Thiện Viễn đã thu về hơn 81 tỉ đồng sau khi bắt đầu công chiếu từ cuối tháng 3 và vẫn đang giữ vững vị trí đầu bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Việt (tính theo ngày).

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Chuyện ồn ào trên mạng xã hội liên quan đến nữ ca sĩ Thiện Nhân và gia đình của cô chắc chắn là một chuyện không vui chút nào, đặc biệt là khi soi chiếu bằng các giá trị văn hóa Á Đông vốn coi trọng nền tảng tình cảm gia đình, quyến thuộc hơn là tài sản.

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

Gần đây trong tiếng Việt có từ mới “GATO” nhanh chóng trở nên phổ biến. Viết tắt của “ghen ăn tức ở”, dịch sang tiếng Tây, tương đương từ “đố kỵ” - một trạng thái cảm xúc tiêu cực, khó chịu, ghen ghét, cay cú trước thành công, danh tiếng người khác.

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Trong bối cảnh văn hóa đọc Việt Nam đang chứng kiến những chuyển động chưa từng có, một hiện tượng nổi bật là sự trỗi dậy mạnh mẽ của sách ngoại văn, đặc biệt là qua các hiệu sách độc lập (indie) có giám tuyển. Không chỉ phản ánh nhu cầu cập nhật tri thức toàn cầu của lớp độc giả trẻ, hiện tượng này còn đặt ra những câu hỏi mang tính chiến lược về con đường đưa văn chương Việt Nam ra thế giới.

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh ban hành văn bản chấn chỉnh hoạt động biểu diễn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chấm dứt tình trạng hát nhép trên sân khấu. Việc này đã nhận được sự đồng thuận cao, không chỉ từ phía những nhà quản lý văn hóa mà cả với những người trực tiếp hoạt động biểu diễn, doanh nghiệp tổ chức biểu diễn.

AI - Tìm đâu ra người thật?

AI - Tìm đâu ra người thật?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang thay đổi cách sách đi từ tay tác giả đến bạn đọc từ khâu sáng tác và biên tập đến in ấn và marketing. Không phải ai cũng hoan nghênh sự thay đổi này, và quả thực là ngoài một số lợi ích nhất định, việc sử dụng AI tràn lan cũng đem lại nhiều vấn đề làm đau đầu các nhà xuất bản, đơn cử như việc con người để cho AI thay thế tác giả và biên dịch viên.

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Trong đám tang nhà thơ Đàm Khánh Phương tại nhà tang lễ Đức Giang hôm ấy, ngoài nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - có mặt và sau đó đọc điếu văn - tôi thấy không nhiều các nhà văn, nhà thơ khác đến đưa tiễn. Phương ít bạn, hay là khi khỏe mạnh, Phương đã có những điều làm bạn bè khó cảm thông?  

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Năm 2001, đạo diễn Steven Spielberg ra mắt bộ phim “A.I. - Artificial Intelligence”, kể về cậu bé robot David được lập trình để yêu thương vô điều kiện. Khi người mẹ nuôi bỏ rơi cậu giữa rừng, David bắt đầu hành trình 2000 năm đi tìm một ngày được sống bên bà. Khi những sinh vật tiến hóa đánh thức cậu giữa tàn tích băng giá, điều David xin không phải tri thức hay quyền năng, mà chỉ là một ngày được yêu thương.

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Động viên đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo luôn là một trong những chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa soi đường quy hoạch

Văn hóa soi đường quy hoạch

Gần đây, có hai sự việc nhận được khá nhiều sự quan tâm của dư luận, và vẻ bề ngoài, hai sự việc ấy không hoàn toàn liên quan tới nhau nhưng sâu trong bản chất, chúng lại có một điểm chung.

Sống để kết nối yêu thương

Sống để kết nối yêu thương

Sống là để kết nối những yêu thương, bởi cuộc sống có biết bao nhiêu điều đáng yêu mà chúng ta không thể kể tên hết được. Đó là một cảm nhận của người viết có được mỗi khi quan sát và lắng nghe từng thanh âm của cuộc đời. Dẫu biết hằng ngày vẫn xuất hiện cái ác, cái xấu nhưng còn có biết bao người tốt, bao hành động cao cả.

“Cái chết” của sách bìa mềm

“Cái chết” của sách bìa mềm

Cuộc cách mạng văn học hiện đại có sự đóng góp không hề nhỏ của sách bìa mềm. Những quyển sách bìa mềm được bày bán khắp mọi nơi với giá cả phải chăng đã đưa văn học đến với tất cả mọi thành phần trong xã hội.

Quyết liệt phát triển văn hóa

Quyết liệt phát triển văn hóa

Diễn biến mới nhất của việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 7/1/2026, đó là Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã có cuộc họp đầu tiên, trong tuần qua, với nhiều nội dung quan trọng.