Nghịch lý ở đâu có khoáng sản, ở đó dân nghèo đi
TS Lê Đăng Doanh thẳng thắn: “Trong khai thác khoáng sản, dấu hiệu lợi ích nhóm đã rõ ràng. Bộ Tài nguyên - Môi trường cấp phép rất hạn chế nhưng địa phương lại cấp quá nhiều. Để lách qui định, địa phương sẵn sàng chia nhỏ các mỏ để cấp phép, vì nếu qui mô mỏ lớn sẽ thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ. Khoáng sản là tài sản của toàn dân, thế nhưng người dân ở các khu vực khai thác khoáng sản không được quyền lợi gì, lại chịu ô nhiễm môi trường trầm trọng. Việt Nam chưa công nghiệp hóa được bao nhiêu mà môi trường đã bị tàn phá. Các dự án cần phải minh bạch, công khai và chia sẻ lợi ích hợp lí cho người dân”.
Thiếu tướng Lê Văn Cương - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược (Bộ Công an) thì cho rằng, việc quản trị tài nguyên ở Việt Nam có 2 nút thắt rất lớn, đó là hệ thống luật pháp không hoàn chỉnh và hệ thống giám sát rất kém. Luật Khoáng sản có hơn 2 năm nhưng các văn bản kèm theo không đầy đủ. Việc giám sát khai thác chưa tốt, chỉ có 30% doanh nghiệp báo cáo định kì, 70% còn lại không chấp hành.
“Khoáng sản có đến 3 bộ tham gia quản lí (Bộ Tài nguyên – Môi trường, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng) nhưng cả 3 bộ đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, không ai chịu trách nhiệm trước nhân dân. Cần phải thống nhất đầu mối quản lí cho Bộ Tài nguyên – Môi trường. Hiện nay, Bộ Tài nguyên – Môi trường chưa được giao hết quyền. Bộ này chỉ làm qui hoạch, còn xuất khẩu thì giao Bộ Công thương. Cũng giống như người nông dân làm ra hạt lúa chẳng được bao nhiêu nhưng mấy công ty lương thực, lương hàng trăm triệu. Quốc hội cũng cần phải có trách nhiệm giám sát” – Thiếu tướng Cương bày tỏ.
Liên quan đến cơ chế chia sẻ lợi ích cho người dân vùng khai thác khoáng sản, ông Phạm Gia Túc – Phó Chủ tịch VCCI cho biết: “Nhà nước cần phải có Quĩ khoáng sản để phân phối lại cho người dân. Hiện nay, việc phân phối lợi ích không hài hòa. Doanh nghiệp lợi nhuận cao, trong khi người dân không được gì”. Thiếu tướng Cương cũng cho rằng, Nhà nước cần phân phối lại lợi ích từ việc khai thác khoáng sản cho người dân thông qua thu thuế tài nguyên từ các doanh nghiệp, tránh tình trạng càng khai thác khoáng sản, người dân địa phương càng nghèo.
Nhà nước thất thu thuế tài nguyên
Theo TS Lại Hồng Thanh – Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản (Bộ Tài nguyên – Môi trường), Việt Nam có trên 5.000 điểm mỏ, quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau. Một số loại có tiềm năng để khai thác, chế biến qui mô công nghiệp như bauxite, titan-zircon, đất hiếm, than, apatit, đá hoa trắng, cát trắng… Tính đến tháng 5/2013, cả nước có gần 5.000 giấy phép khai thác khoáng sản đang còn hoạt động. Trong đó có 79 giấy phép thăm dò và 503 giấy phép khai thác do Bộ Tài nguyên – Môi trường cấp; 4.200 giấy phép do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp.
Tuy nhiên, TS Thanh thừa nhận: “Nhà nước không kiểm soát được sản lượng khai thác thực tế của các tổ chức, cá nhân, đồng nghĩa với việc không nắm được thực trạng “tài sản” của mình, dẫn đến khó định hướng hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản. Nhà nước cũng không kiểm soát được nguồn thu ngân sách từ thuế tài nguyên, bởi sản lượng làm căn cứ tính thuế do doanh nghiệp tự kê khai. Việc thanh tra, kiểm tra chỉ được tiến hành 2 năm/lần, khiến cho hoạt động khai thác khoáng sản trái phép vẫn còn phổ biến tại nhiều địa phương”.
Tại hội thảo, các diễn giả cũng bày tỏ lo ngại về việc quản lí tài nguyên chưa tốt, gây thất thoát, nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Ông Mai Xuân Hùng băn khoăn: “Quy hoạch khoáng sản ở Việt Nam chưa tốt, trữ lượng cho từng loại vẫn chỉ nằm ở con số dự báo. Khi còn chưa có số liệu chính xác thì sao quản lí được”. Trong khi đó, ông Phạm Gia Túc lấy ví dụ, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản ở Tuyên Quang chỉ nộp ngân sách 5 tỉ đồng/năm trong khi đó địa phương phải bỏ ra 30 tỉ đồng để nâng cấp hạ tầng xuống cấp do khai thác khoáng sản