Theo PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh (KCB), tỷ lệ phụ nữ bị thương vì bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục do chồng gây ra chiếm khoảng 30%, trong đó, hơn 10% phải chăm sóc y tế. Đặc biệt, tỉ lệ bị bạo hành khi mang thai khá cao, mà càng trình độ thấp, càng bị bạo hành nhiều.
Riêng ở tỉnh Lạng Sơn, số bị BLGĐ đang tăng: năm 2010 chỉ có 506 vụ thì năm 2012 đã là 699 vụ và 6 tháng đầu năm 2013 đã là 436 vụ. 94% nạn nhân phải đến BV huyện điều trị và 6% phải chuyển đến tuyến tỉnh và tuyến TW; 79% có bệnh án nhập viện, đặc biệt 46% tổn thương tâm lý, tinh thần, 42% ảnh hưởng thương tật và 0,7% tử vong. Thực tế cho thấy, các nạn nhân rất cần được hỗ trợ về y tế với việc sàng lọc, khám, chăm sóc và điều trị, tư vấn tâm lý, không kỳ thị v.v… Đó là thông tin do BS Hoàng Thị Hiền, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn, cho biết.
Hiện ngành Y tế đã thành lập 5 mô hình điểm về chăm sóc sức khỏe (CSSK) nạn nhân bị BLGĐ tại Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Đức Giang (Hà Nội), BVĐK Đông Anh (Hà Nội), BV Bình Đại (Bến Tre), BV Đoan Hùng (Phú Thọ) và BV Cửa Lò (Nghệ An). Chỉ trong 3 năm gần đây, các BV này đã phải tiếp nhận và hỗ trợ gần 3.000 nạn nhân của BLGĐ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là con số “bề nổi”, vì thực tế cho thấy, nhiều nạn nhân vẫn e ngại, chưa chủ động tìm đến cơ sở y tế để nhờ giúp đỡ, hoặc không biết tìm đến để cầu cứu. Đa số bệnh nhân là nạn nhân BLGĐ khi đến BV đều không muốn khai sự thật, thậm chí các thành viên trong gia đình cố tình che giấu do sợ ảnh hưởng đến những người khác trong nhà, hoặc bị trả thù, sợ phải trả tiền viện phí, sợ bị phạt tiền v.v…
Vì thế, rất cần tăng cường hoạt động truyền thông, giúp nhiều nạn nhân BLGĐ biết và tìm đến các cơ sở y tế để được CSSK kịp thời. Bên cạnh đó, cán bộ y tế còn thiếu cả về kiến thức lẫn kỹ năng CSSK nạn nhân BLGĐ, nên rất cần chuyên môn hóa kỹ năng tư vấn, sàng lọc, chăm sóc và điều trị, để đảm bảo bí mật cho nạn nhân với tất cả các cán bộ y tế. Các nạn nhân cần được bảo vệ an toàn, vì thế, ngành Y tế cũng cần phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tư pháp để có sự hỗ trợ kịp thời, tư vấn pháp lý cho họ. Các BV cần có các dịch vụ tối thiểu cho nạn nhân bị BLGĐ, để ngoài chăm sóc y tế, còn giúp bệnh nhân phục hồi các tổn thương về tâm lý, ổn định tinh thần nhanh hơn.
Trao đổi kinh nghiệm về mô hình CSSK nạn nhân bị BLGĐ tại BV Bình Đại, ông Nguyễn Duy Linh, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Bến Tre cho rằng: Cần làm tốt công tác sàng lọc với những người có dấu hiệu nghi ngờ bị BLGĐ. Khi người bệnh có liên quan đến BLGĐ, sẽ thông báo cho Phòng Tư vấn để tư vấn cho nạn nhân, thân nhân, người gây BLGĐ và các vấn đề liên quan. Việc làm này góp phần nâng cao nhận thức của người dân về bình đẳng giới, nhờ đó, 2 năm trở lại đây, số vụ BLGĐ ở khu vực Bình Đại giảm nhiều.
Kinh nghiệm của ngành Y tế Hà Nội trong phát hiện và CSSK nạn nhân bị BLGĐ cũng được TS Nguyễn Thị Vân Anh chia sẻ: Các bệnh nhân nữ từ 15 tuổi trở lên đều được sàng lọc với các câu hỏi về bạo lực, lạm dụng tình dục, hiếp dâm vv… Những nạn nhân đến BV trong tình trạng cấp cứu, sẽ được cán bộ y tế khai thác thông tin qua người đưa đi hoặc người nhà nạn nhân. Nếu là nạn nhân BLGĐ sẽ được chăm sóc riêng, động viên để họ thổ lộ về tình trạng bị bạo hành để có cách xử trí, điều trị tốt hơn, đồng thời, thông báo đến các cơ quan có thể hỗ trợ bệnh nhân.
Khi được điều trị ổn định thương tật, bệnh nhân sẽ được chuyển đến Trung tâm tư vấn CSSK phụ nữ tại BV, để tư vấn về kế hoạch an toàn, các vấn đề liên quan đến luật pháp, gia đình, ly hôn, quyền nuôi dưỡng con cái v.v… Đã có 13.490 người được tư vấn, trong đó, hơn 7.000 người là nạn nhân BLGĐ, nhiều người tư vấn tới 8 lần. Các trạm y tế được coi là địa chỉ tin cậy cho các nạn nhân và chủ động lập danh sách các gia đình có nguy cơ cao về bạo hành, để gặp gỡ các ông chồng và giúp các bà vợ biết cách phòng ngừa bạo hành; giới thiệu địa chỉ hỗ trợ để họ biết khi cần và thông báo cho chính quyền địa phương tiếp nhận, hỗ trợ khi nạn nhân ra viện.
Mặc dù thống nhất về việc y tế rất cần đáp ứng trước tình hình BLGĐ gia tăng, để góp phần ngăn chặn tình trạng này, nhưng các đại biểu cũng chỉ ra những khó khăn: nhiều nạn nhân BLGĐ chưa tự tin khai báo và yêu cầu giúp đỡ, không dám nói lên sự thật với cán bộ y tế; nhiều phụ nữ bị BLGĐ nhưng chưa được giúp đỡ vì mới phát hiện những trường hợp đến BV đều là nghiêm trọng. Do quá tải BV, nhiều nạn nhân BLGĐ chưa được phát hiện để được tư vấn sâu hơn, đặc biệt là nhiều cơ sở chưa có phòng tư vấn riêng cho nạn nhân BLGĐ. Bạo hành thể xác dễ nhận biết, còn bạo hành tinh thần và tình dục khó nhận biết, đòi hỏi kỹ năng khai thác của cán bộ y tế và hợp tác của bệnh nhân. Trong khi đó, việc sàng lọc, phát hiện các vụ BLGĐ là cơ sở để các ngành chức năng xử lý vi phạm, đặc biệt là bạo lực tình dục