Nhân kỷ niệm 39 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2014):
Cực hình không lung lạc được lòng son
Cụ già râu tóc bạc trắng như cước, nước da hồng hào, dáng người nhỏ nhắn và phong thái nho nhã đang ngồi trước mặt chúng tôi, là một Trung tá Công an. Ít ai biết rằng, cuộc đời cụ đã từng vào sinh ra tử khi đất nước bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước. Những năm tháng tuổi trẻ đầy gian khổ mà vinh quang ấy luôn là niềm tự hào của cụ và gia đình.
Bây giờ cụ đã 85 tuổi, sum vầy bên cháu con, ấm áp bên xóm làng… ấy là niềm hạnh phúc mà không phải ai cũng có. Cụ là Thạch Văn Toàn (tức Hoàng Thụ), nguyên cán bộ Cục Cảnh sát bảo vệ, nhà cụ ở thôn 2, xã Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội).
Đón chúng tôi vào nhà, cụ Toàn tự tay đi pha nước mời khách. Nét nho nhã, thanh tao hiện lên từ ánh mắt hiền từ, giọng nói rất đỗi hiền hòa thoải mái. Vì là, sắp đến ngày 30/4, nên cụ Toàn đã chuẩn bị sẵn sàng cho buổi gặp mặt những cán bộ Công an chi viện cho chiến trường miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhớ lại những ngày nước sôi lửa bỏng ấy, kể với chúng tôi mà cụ Toàn vẫn không quên một chi tiết nhỏ. “Tôi sinh ra và lớn lên ở thôn Đông Tảo, xã Thụy Hoàng, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Ngày đó, bố mẹ tôi đi làm tá điền ở đó, chứ quê gốc ở Gia Lâm, Hà Nội…”, cụ Toàn bắt đầu kể. Bố mẹ nghèo nên phải đi làm tá điền, chàng thanh niên tên Thạch Văn Toàn lớn lên, sớm giác ngộ cách mạng, tham gia lực lượng thanh niên cứu quốc và sớm kết nạp Đảng ở huyện Yên Phong, làm Bí thư chi bộ, làm Huyện ủy viên ở Yên Phong. Sau đó là chính trị viên Huyện Đội, tiếp tục chiến đấu ở địa bàn Bắc Ninh. Khi tiếng gọi vào Nam vang lên, người chiến sĩ Thạch Văn Toàn vào Nam chiến đấu (năm 1967). Còn nhớ, tất cả tập trung ở xã Tăng Non, Phúc Thọ (Hà Nội bây giờ), hành quân vào chi viện cho An ninh Khu 6 (gồm các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đà Lạt…). Vốn là người từng trải, ông được giao làm Phó Ban an ninh vũ trang của Khu. Có nhiệm vụ tổ chức lực lượng vũ trang, trinh sát vũ trang các tỉnh, bảo vệ an ninh…
Cụ Thạch Văn Toàn (tức Hoàng Thụ).
Sống và chiến đấu trong điều kiện bom rơi đạn nổ, chúng tôi hỏi ông có nhớ bao nhiêu lần gặp nguy hiểm đến tính mạng. Ông Toàn cười khà: “Ôi, nguy hiểm thì nhiều lắm, không thể nhớ hết”. Chuyện bị địch càn là thường xuyên, đi đến đâu nó chặn bom tới đó. Vậy là, lực lượng an ninh nếu đi từ A đến B (chuyển địa điểm) thì không đi đến B ngay, cứ một nửa đường thì mình tụt lại. Địch lại bỏ bom ở điểm B, từ đó lộ rõ là có chỉ điểm, phải cảnh giác và xử lý ngay. Còn chuyện đói ư, cụ Toàn cho là bình thường lắm. “Chỉ băn khoăn lo tính mạng của đồng đội mỗi khi địch càn quét, chúng bắt đi nhiều cán bộ an ninh”, cụ Toàn nhớ lại. Ở An ninh Khu, đồng chí Thạch Văn Toàn được cử xuống Bình Thuận làm nhiệm vụ tổ chức trinh sát vũ trang, xây dựng lực lượng và chiến đấu bảo vệ khu căn cứ. Ông bị bắt năm 1969 trong một lần về báo cáo tình hình ở Cứ. Ở dưới thì địch càn đường bộ, trên trời thì máy bay trực thăng bay nhức óc. Đoàn cán bộ An ninh hôm đó có 5 người.
“Tôi và anh Thụy đi về Khu báo cáo, 3 người nữa là giao liên dẫn đường và du kích. Đi tới vùng ven Hàm Thuận, còn độ nửa ngày đường nữa là tới Cứ, bất ngờ có ổ phục kích của địch ở Hàm Chí. Tôi rút khẩu súng ngắn K59 bắn 3 phát thì có 2 tên địch gục xuống, còn một tên bị thương ở bả vai. Tôi vùng chạy nhưng lại rơi vào ổ phục, nó bắt. Tôi vùi súng vào đống bùn. Địch đánh tôi ngất lên ngất xuống và hỏi đủ thứ… nhưng tôi chỉ nói rằng là bộ đội trên đường vào Nam, bị sốt rét phải ở lại, đơn vị đi rồi nên không biết ở đơn vị nào. Và tôi còn nói rút đi 10 tuổi để đúng với lứa tuổi lính động viên”. Không khai thác được gì, địch đưa ông về trung tâm thẩm vấn, đơn vị cơ động của lính Mỹ ở huyện Hàm Thuận. Vừa tra đánh, vừa hỏi, những tên lính Mỹ to béo, đi giày đinh cao gót cứ thế nện xuống con người bé nhỏ như ông. Tra tấn chán chẳng khai thác được gì, chúng hắt xô nước vào mặt ông rồi lôi sang phòng khác. Sáu tháng trời ròng rã bị tra tấn với đủ cực hình… ông cũng chẳng hé răng. “Cánh tay tôi bây giờ vẫn đau, mạng sườn cứ ê ẩm”, cụ Toàn xoa nhẹ vào tay và nói. Tiếp đó, chúng đưa ông lên Pleiku, năm 1970 thì đưa ra nhà tù Phú Quốc. Mãi tới khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết mới trở về đơn vị cũ tiếp tục chiến đấu cho tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Người chiến sĩ Công an vẫn chưa ngừng nghỉ, năm 1976 ông trở về Bắc thăm gia đình ít ngày rồi lại vào Nam làm tiếp nhiệm vụ ổn định tình hình an ninh trật tự. Năm 1981, ông chuyển về Cục Cảnh sát bảo vệ công tác cho tới ngày nghỉ hưu với cấp hàm Trung tá.
Kể về những ngày tháng cơ cực khi chồng biền biệt nơi chiến trường chống Mỹ, cụ Nguyễn Thị Đạt (vợ cụ Toàn) vẫn ngân ngấn nước mắt. Lúc ấy, người vợ trẻ phải lo toan những bộn bề ở hậu phương để chồng yên tâm chiến đấu. “Lúc ông ấy đi vào Nam chiến đấu các con tôi còn nhỏ, đứa lớn 6 tuổi, đứa thứ hai 4 tuổi, đứa thứ ba 2 tuổi và tôi đang có bầu đứa thứ tư. Bố chồng thì đã già, anh trai chồng cũng lên đường vào Nam chiến đấu cùng ngày với ông Toàn”, cụ Đạt nhớ lại những năm tháng gian khổ. Khó mà kể hết những vất vả, gian nan của người vợ trẻ ở hậu phương lúc bấy giờ. Con nhỏ dại, cha mẹ già cần chăm sóc và làm lụng ruộng đồng nuôi cả gia đình. Không ít đêm bà phải thức trắng bồng con đau ốm, rong ruổi trong ngõ ngoài làng… Cực khổ hơn nữa là, 7 - 8 năm trời mà không có lấy một mẩu tin tức về người chồng đang chiến đấu nơi xa. Bà gần như gục ngã khi biết giấy báo tử chồng mình đã gửi về huyện, nhưng vì bố chồng đang ốm nặng nên đã nuốt đau khổ vào trong. Thế rồi, một hôm bà được đồng đội của ông cho biết “Anh Toàn đang bị địch bắt tù đày”. Vậy là chồng bà vẫn còn sống, đấy vẫn là một tia hy vọng. Bà vui vẻ trở lại, chăm sóc gia đình để chờ ngày chiến thắng ông sẽ trở về. Bây giờ, các con của hai cụ đã khôn lớn trưởng thành, con cháu hiếu thảo, gia đình đoàn viên cuộc sống sum vầy. Về hưu, cụ Toàn vẫn tích cực tham gia công tác ở địa phương, tiếp tục đóng góp công sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp…
Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.
Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.
Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.
Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.
Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.
Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.
Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.
Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.
Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.
Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.
Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.
Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...
Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.
Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.
Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.
Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.
Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.
Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.
Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.
Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.