Công tác xây dựng lực lượng CAND đóng góp cho chiến thắng Điện Biên Phủ

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân đã từng bước được quan tâm đúng mức, phát triển về mọi mặt, kịp thời chuyển hướng tổ chức, nhiệm vụ của toàn ngành từ kiện toàn Nha Công an Trung ương đến Thứ Bộ Công an và Bộ Công an.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cùng với sự ra đời của Nhà nước cách mạng, các tổ chức tiền thân của Công an Việt Nam được thành lập, đó là Sở Liêm phóng Bắc Bộ, Sở Trinh sát Trung Bộ và Quốc gia tự vệ cuộc Nam Bộ. Tuy tên gọi khác nhau nhưng các tổ chức này đều có chung nhiệm vụ đấu tranh trấn áp phản cách mạng, các loại tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân. Ngay từ khi ra đời, công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh bảo vệ những thành quả của cách mạng, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng và Chính phủ.

Thực hiện Nghị định số 14/NgĐ ngày 19/1/1946, Bộ Nội vụ trong một thời gian ngắn, ngành Công an đã tranh thủ xây dựng lực lượng, củng cố tổ chức, đề nghị với Đảng bổ sung cán bộ, đảng viên. Đến khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, toàn lực lượng Công an đã từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy, chấn chỉnh đội ngũ, quy định nhiệm vụ, vững bước cùng toàn dân tộc bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.

Cùng với xây dựng về chính trị, nghiệp vụ, Nha Công an Trung ương đã chủ động củng cố và tăng cường về tổ chức bộ máy cho phù hợp với yêu cầu của cuộc kháng chiến. Ngày 29/1/1947, Nha Công an Trung ương ra Quyết nghị số A00092 về chương trình hoạt động của bộ máy Công an trong thời chiến, trong đó xác định: Nhiệm vụ của Công an là giữ bí mật hậu phương, bao vây triệt đường xâm nhập của gián điệp, kiểm soát dân chúng, khống chế các phần tử hiềm nghi, bảo vệ các cơ quan chính quyền đóng ở thôn quê, miền núi, điều tra địch tình, giúp tin tức cho quân đội đánh giặc. Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ nhất tại Tuyên Quang (16/5/1947) xác định rõ quan điểm lớn: xây dựng tổ chức Công an sát hợp với tình thế và làm cho Công an gần dân hơn. Tính chất Công an phải gần dân, giúp dân (Bộ Công an, Văn phòng Bộ, Hệ thống hoá văn bản các Hội nghị Công an toàn quốc (1945-1954), Tối mật, Lưu hành nội bộ, Hà Nội-2001, tr.7, 10, 11). Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ hai (1948) xác định: cần ấn định tổ chức mới cho phù hợp với tình hình hiện tại. Thực hiện chủ trương của Đảng là bổ sung và phát triển lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị tổng phản công, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 4 (1949) thống nhất tổ chức lực lượng công an: xây dựng bộ máy tổ chức của toàn ngành thống nhất, đơn giản, khoa học; kiện toàn Nha, củng cố Ty, giản đơn Sở, rút bớt quân số... xây dựng lý luận Công an nhân dân Việt Nam (Bộ Nội vụ, Viện Khoa học Công an, Công an nhân dân Việt Nam lịch sử biên niên (1945-1954), sđd, tr.187-188). Theo phương châm trên, Nha Công an tập trung kiện toàn tổ chức, cán bộ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bên cạnh việc từng bước kiện toàn bộ máy tổ chức, Đảng và các cấp ủy Đảng, Nha đã rất quan tâm chú ý giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ Công an về lập trường quan điểm của giai cấp công nhân, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, thấu suốt đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài”. Đây là bước chuẩn bị rất cơ bản và quan trọng cho lực lượng Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phục vụ các chiến dịch quân sự lớn và chiến dịch Điện Biên Phủ sau này.

Lực lượng Công an phối hợp với bộ đội bảo vệ tuyến đường ra mặt trận Điện Biên Phủ.

Lực lượng Công an phối hợp với bộ đội bảo vệ tuyến đường ra mặt trận Điện Biên Phủ.

Một bước tiến quan trọng trong công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân là tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 5 (1950) đã xác định quan điểm xây dựng lực lượng Công an: “Vì dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc”. Hội nghị đã thảo luận và thông qua “Đề án Công an nhân dân Việt Nam ”. Theo quan điểm trên, tổ chức Công an xã (gọi là Ban Công an xã) phát triển rộng rãi trở thành những lực lượng đông đảo hỗ trợ đắc lực cho Công an trong đấu tranh chống hoạt động gián điệp, do thám phản động, giữ gìn trật tự xóm làng, làm nòng cốt trong công tác giữ gìn bí mật, thực hiện khẩu hiệu “ba không”, “phong trào phòng gian bảo mật” trong nhân dân ở cơ sở.

Ngày 3 tháng 1 năm 1952 Bộ Nội vụ ra Nghị định số 9/NĐ về việc thành lập Công an huyện, lực lượng Công an huyện trong toàn quốc được củng cố và kiện toàn một bước quan trọng. Ngày 19/8/1952, Trung ương Đảng cử đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Trung ương Đảng (khoá II) sang phụ trách Công an và sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 113/SL, ngày 6/9/1952 bổ nhiệm đồng chí Trần Quốc Hoàn giữ chức Giám đốc Nha Công an thay đồng chí Lê Giản. Ngày 23/11/1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết nghị số 26-QN/TW về công tác Công an bổ sung thêm nhiệm vụ bảo vệ vũ trang các cơ quan đầu não của lực lượng kháng chiến; quản trị nhà giam, giáo dục cải tạo phạm nhân. Ngày 16/2/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha Công an thành Thứ Bộ Công an và sau đó Thứ Bộ Công an ban hành quy định cơ cấu tổ chức bộ máy của Thứ Bộ Công an và Công an liên khu, Công an khu, Công an tỉnh... Trước những chuyển biến mạnh mẽ của cuộc kháng chiến, trong phiên họp từ ngày 27 đến 29/8/1953, Hội đồng Chính phủ đã quyết định đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an trực thuộc Hội đồng Chính phủ, bộ máy của Bộ Công an vẫn giữ nguyên như Thứ Bộ Công an. Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Trung ương Đảng được cử giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Công an. Đây là một bước phát triển mới, nhanh chóng và rất quan trọng về xây dựng lực lượng Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và là nhân tố quan trọng góp phần huy động đủ lực lượng tham gia bảo vệ và phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi.

Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta trong các chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào đã làm thay đổi cục diện chiến trường. Tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn về nhiệm vụ quân sự và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 nhằm tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc. Trước tình hình đó, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 8 (1953) họp và nhấn mạnh: Tiếp tục chỉnh đốn tổ chức đào tạo cán bộ nâng cao tư tưởng chính sách, tăng cường học tập nghiệp vụ, sửa đổi lối làm việc. Hội nghị chủ trương chỉnh đốn tổ chức, tìm hiểu rõ lý lịch cán bộ, nhân viên, khen thưởng đề bạt thích đáng, bổ sung cho đủ số người đã được Chính phủ quy định trong biên chế…

Chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương do đồng chí Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch. Được giao nhiệm vụ bảo vệ chiến dịch, ngành Công an đã thành lập “Ban Công an tiền phương” nằm trong Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương do đồng chí Trần Hiệu làm Trưởng ban (Bộ Công an, 60 năm Công an nhân dân Việt Nam (1945-2005), Nxb. CAND, Hà Nội 2006, tr.152). Thành phần chủ yếu của Ban Công an tiền phương là những cán bộ bảo vệ chính trị, tình báo như đồng chí Trần Hiệu, Nguyễn Văn Tám, Nguyễn Thanh Sơn… Nhiệm vụ của Ban là bảo vệ các lực lượng tham gia chiến dịch, bảo vệ dân công, bảo vệ giao thông vận chuyển, kho tàng, đường hành quân, nơi trú quân của bộ đội. Ở một số tỉnh Tây Bắc cũng thành lập Ban Công an tiền phương cấp tỉnh làm công tác trực tiếp bảo vệ chiến dịch.

Để phục vụ vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí phương tiện, làm đường, cầu phà, kho tàng, Chính phủ đã huy động hơn 26 vạn dân công từ các khu cùng nhiều phương tiện vận tải cả cơ giới và thô sơ. Ngay từ đầu, Ban Công an tiền phương chỉ đạo các Ban Công xã tham gia việc lập danh sách và tiến hành công tác thuần khiết nội bộ đội ngũ dân công, phân loại theo những tiêu chuẩn chung của ngành Công an quy định và đề nghị với bộ phận phụ trách dân công bố trí vào những công việc thích hợp có mức độ quan trọng khác nhau; cử cán bộ Công an huyện theo các đoàn dân công làm nhiệm vụ bảo vệ trực tiếp, tổ chức cho dân công học tập kỷ luật chiến trường; phát động phong trào “phòng gian bảo mật”, khẩu hiệu “3 không”; phổ biến công tác giữ gìn bí mật, cách thức phòng chống địch do thám, điều tra, quy định việc đi lại, tiếp xúc giao dịch, che phòng nơi ở, nơi làm việc. Ban Công an tiền phương còn đề nghị Hội đồng cung cấp mặt trận biên chế dân công thành những đơn vị cấp đại đội, trung đội, tiểu đội và lựa chọn những đảng viên, đoàn viên hoặc những người tích cực làm hạt nhân lãnh đạo… Lực lượng Công an phối hợp với dân quân du kích mở các cuộc vận động giáo dục nhân dân phòng gian, giữ bí mật, tổ chức canh gác ngày đêm các địa điểm trú quân, kho tàng, bến bãi và phân công nắm tình hình, phát hiện những phần tử khả nghi hoạt động do thám, chỉ điểm.

Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tấn công địch ở Điện Biên Phủ và cho thấy địch đã hoàn toàn bất ngờ, bị động trước sức tấn công như vũ bão của bộ đội ta; các kế hoạch quân sự đã được bảo vệ tuyệt đối bí mật, mọi hoạt động di chuyển quân, vận chuyển phục vụ chiến dịch đều đảm bảo an toàn. Các cơ sở xã hội và mạng lưới do thám, gián điệp, phản động của địch cài cắm hoạt động ở vùng hậu phương và nhất là các địa bàn xung quanh Điện Biên Phủ và dọc tuyến vận chuyển lên Điện Biên Phủ đều bị vô hiệu hóa. Trong thắng lợi đó có sự đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân đã từng bước được quan tâm đúng mức, phát triển về mọi mặt, kịp thời chuyển hướng tổ chức, nhiệm vụ của toàn ngành từ kiện toàn Nha Công an Trung ương đến Thứ Bộ Công an và Bộ Công an. Nhiều cán bộ ưu tú của Đảng, các ngành được bổ sung cho Công an. Hệ thống tổ chức Công an được xây dựng, kiện toàn một bước và thống nhất trong toàn quốc. Thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân năm 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ khẳng định sức mạnh của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó có đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân. Qua công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân những năm cuối của cuộc kháng chiến đã thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ về công tác xây dựng lực lượng. Đây là một nhân tố cực kỳ quan trọng để CAND hoàn thành nhiệm vụ nặng nề nhưng hết sức vẻ vang trong chiến dịch Điện Biên Phủ và góp phần tạo nên chiến công chung của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ

T.B.T.

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.