Những số liệu trên đã được cung cấp cho báo chí tại hội nghị Công bố số liệu đánh giá ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa (Đồng Nai) do Văn phòng Ban chỉ đạo 33 (Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc phối hợp tổ chức sáng 10/3.
Các nghiên cứu mới nhất do dự án “Xử lí dioxin tại các điểm nóng ô nhiễm nặng tại Việt Nam” được thực hiện ở bên ngoài về phía Tây và các hồ trong sân bay Biên Hòa đã phát hiện thêm một số điểm ô nhiễm mới. Khoảng 110 mẫu đất và trầm tích đã được lấy theo các hướng thoát nước từ sân bay và theo chiều sâu trung bình 30cm. Kết quả cho thấy, một số mẫu trầm tích có nồng độ cao hơn mức cho phép nhiều lần, chủ yếu nằm ở các mương thoát nước sát sân bay. Các mương này sẽ dẫn nước đổ ra sông Đồng Nai. Kết quả phân tích 35 mẫu trầm tích và 20 mẫu đất cho thấy, tất cả các mẫu đất ở gần các hồ khu vực phía Bắc và Đông sân bay Biên Hòa đều dưới ngưỡng cho phép theo TCVN 8183:2009. Tuy nhiên, có 20/35 mẫu trầm tích vượt ngưỡng cho phép. Trong 28 hồ khảo sát, có tới 16 hồ có nồng độ dioxin vượt ngưỡng cho phép, mẫu cao nhất đến hơn 8.000 ppt (hồ Ông Bình nồng độ 8.016 ppt). Đặc biệt với các hồ mới đào hoặc hồ ở vị trí cao trong sân bay bị phát hiện ô nhiễm nặng.
Kết quả phân tích nồng độ PCDD/PCDF cho thấy đã có sự lan truyền dioxin từ sân bay ra cửa sông Đồng Nai, trong đó hướng lan truyền từ kênh dẫn nước khu vực phía Tây Nam là chủ yếu. Có tới 6/27 mẫu trầm tích có nồng độ vượt ngưỡng 150 ppt (từ 158 đến 1.053 ppt). Đây là các mẫu nằm trên kênh thoát nước từ sân bay Biên Hòa ra sông Đồng Nai hoặc tại các ao cạn gần sát sân bay. Mẫu có nồng độ cao nhất là 1.053 ppt, nằm trong ao cạn cách tường bao sân bay khoảng 150m. Nguồn gốc ô nhiễm dioxin được xác định là từ chất độc hóa học được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.
Hồ Ông Bình trong sân bay Biên Hòa có nồng độ dioxin gấp 50 lần mức cho phép.
Cần 300 triệu USD để xử lý
PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi ngắn với PSG.TS Lê Kế Sơn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên - Môi trường), Chánh văn phòng Ban chỉ đạo 33:
- Có thông tin rằng, các nhà khoa học Việt Nam đã xử lí thành công dioxin bằng công nghệ sinh học với chi phí chỉ bằng 5-10% so với Hoa Kì. Điều đó có chính xác không, thưa ông?
- PGS.TS Lê Kế Sơn: Đó là thông tin thiếu chính xác. Chưa có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để chứng minh việc có xử lí dioxin thành công bằng công nghệ sinh học hay không, nhất là khi nồng độ dioxin ở Việt Nam rất cao.
- Thưa ông, hiện nay, dự án xử lí dioxin tại sân bay Đà Nẵng do Hoa Kì thực hiện đến đâu rồi?
- PGS.TS Lê Kế Sơn: Việc xử lí dioxin tại sân bay Đà Nẵng được thực hiện bằng công nghệ hấp giải nhiệt. Các kết quả trong phòng thí nghiệm đều cho hiệu quả cao, tất nhiên phải tiếp tục theo dõi để đánh giá được chính xác hơn. Trong quá trình xử lí còn phải xem xét có sự phát thải ra môi trường hay không.
- Thế còn sân bay Phù Cát?
- PGS.TS Lê Kế Sơn: Sân bay Phù Cát được thực hiện bằng biện pháp chôn lấp các đất nhiễm dioxin. Việc đó có thể cô lập, cách ly tuyệt đối sự lan tỏa của dioxin ra môi trường xung quanh. Tuy nhiên không thể xử lí dioxin triệt để.
- Ở sân bay Biên Hòa thì sao, thưa ông?
- PGS. TS Lê Kế Sơn: Phân tích dioxin tại một số hồ lân cận sân bay thì thấy có nơi, nồng độ dioxin cao hơn hàng trăm, nghìn lần, thậm chí có mẫu lên đến hàng triệu ppt, trong khi đó nồng độ cho phép chỉ là 1.000 ppt. Trước đây chưa có thông tin đầy đủ nên chưa xác định được qui mô ô nhiễm. Sau này, khi chiến dịch Pacer Ivy (thu gom chất diệt cỏ tại Việt Nam) được phát động thì phát hiện thêm một số điểm ô nhiễm ở sân bay Biên Hòa. Khối lượng đất có nồng độ dioxin cao được chôn lấp tại sân bay Biên Hòa năm 2006 chỉ 94.000m3, nhưng hiện nay đã lên tới 240.000m3, trong đó có khoảng 200.000m3 đất và 40.000m3 bùn. Trong khi đó khối lượng đất nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng là 70.000 m3, sân bay Phù Cát là 7.500m3.
- Thưa ông, việc ngăn chặn sự lan tỏa dioxin ra sông Đồng Nai sẽ được thực hiện bằng cách nào?
- PGS.TS Lê Kế Sơn: Có thể tiến hành xây tường bao quanh, làm các đập ngăn nước, giảm tốc dòng nước từ sân bay Biên Hòa ra sông Đồng Nai… Nhưng đây chỉ là biện pháp tạm thời. Muốn xử lí được khối lượng dioxin lớn như thế, phía Hoa Kì yêu cầu cần phải có đánh giá môi trường. Hiện nay, USAID (Hoa Kì) đã phối hợp với Bộ Quốc phòng tiến hành đánh giá môi trường khu vực này. Việc này sẽ tốn kém và có thể kéo dài 2 năm.
- Có đánh giá tổng thể nào về việc phơi nhiễm dioxin của cộng đồng dân cư sống quanh sân bay Biên Hòa không, thưa ông?
- PGS.TS Lê Kế Sơn: Chúng ta chưa có điều kiện kĩ thuật và kinh phí để lấy mẫu hàng loạt xem ai nhiễm, ai không nhiễm. Có nhiều người khi được kiểm tra có nồng độ dioxin cao, nhưng không có nghĩa là nhiều người ở Biên Hòa đều vậy. Nên nhớ, có nhiều khi, người sống gần sân bay nhưng không ăn cá, gia cầm, không dùng nước ở đó thì không nhiễm. Trong khi đó, cá hay gia cầm được nuôi trong vùng sân bay, bán cho vùng xa hơn thì lại bị nhiễm. Lúc này, phải bằng mọi cách chấm dứt ngay việc nuôi trồng thủy sản, gia cầm, gia súc trong khu vực sân bay Biên Hòa.
- Hiện nay, công nghệ xử lí dioxin ở sân bay Biên Hòa là công nghệ gì?
- PGS. TS Lê Kế Sơn: Cho đến nay vẫn chưa quyết định công nghệ. Lựa chọn công nghệ còn phụ thuộc vào nguồn kinh phí. Nếu nguồn tiền dồi dào thì sẽ chọn công nghệ tốt nhất. Cả phía Việt Nam và Hoa Kì đều cân nhắc về việc có sử dụng công nghệ sinh học hay không.
- Nếu chọn công nghệ tốt nhất thì kinh phí bao nhiêu, thưa ông?
- PGS.TS Lê Kế Sơn: Ở sân bay Đà Nẵng có 70.000m3 cần xử lí, dự kiến ban đầu của Hoa Kì là 34 triệu USD, nhưng hiện nay đã lên 84 triệu USD. Khối lượng ở sân bay Biên Hòa lên tới 240.000m3, số tiền sẽ rất lớn. Nếu cũng áp dụng công nghệ như ở sân bay Đà Nẵng thì có thể gần 300 triệu USD