Con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nói về cha mình

Ba tôi thường tâm sự với chúng tôi rằng cách mạng là sự nghiệp chung. Phương pháp lãnh đạo của Đảng, là phương pháp tập thể nên một khi ý kiến của mình dù thế nào cũng phải có sự nhất trí.

Là con của người bình thường thì ảnh hưởng của người cha đã là to lớn, song làm con của một người vĩ đại thì ảnh hưởng của cha mình lại càng mãnh liệt và sâu sắc. Tôi ở trong tình trạng đó. Thậm chí cho đến giờ khi đã gần 50 tuổi mà trong mỗi một việc làm của mình, tôi luôn tự hỏi, nếu là ba mình, không biết ông xử lý sự việc này thế nào và sau đó tôi luôn tự cố gắng làm theo cái cách mà tôi cảm nhận đó chính là cái mà cha bằng lòng…

Với cha tôi, suy nghĩ liên tục và trong sự suy nghĩ đó là một quá trình tìm tòi, sáng tạo không ngừng đã trở thành một phần cuộc sống của ông. Tôi vẫn nhớ như in những ngày cuối cùng của cuộc đời, khi mà ba tôi phải đấu tranh gay go với bệnh tật của mình, trong một buổi chiều hè nóng bức của Hà Nội khi tôi lên thăm ông tại một biệt thự của Văn phòng TW Đảng ở khu Hồ Tây, lúc tâm sự ông có nói với tôi rằng: "Lúc này thỉnh thoảng ba có khi không suy nghĩ gì cả".

LTS: Lê Kiên Trung - người con duy nhất trong gia đình cố Tổng Bí thư Lê Duẩn được hưởng hạnh phúc lớn lao là được gần cha từ bé cho đến lúc trưởng thành. Anh nghe mẹ kể lại rằng, trong những năm hoạt động bí mật, thỉnh thoảng cha anh chỉ tạt qua nhà một thời gian ngắn thăm ông bà nội, mẹ anh cùng các anh chị em của anh. Sau này, khi ông được cử làm Bí thư Thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng thì gia đình mới có điều kiện sống gần ông hơn. Còn với anh, sau khi xa mẹ, khoảng từ giữa năm 1961, tức là khi được hai tuổi rưỡi, anh gần như được ăn, ngủ và sống gần cha. Điều đó đã giúp anh hiểu về cha mình nhiều hơn và cũng chịu ảnh hưởng từ ông nhiều hơn. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, anh đã viết riêng cho Báo Công an nhân dân về cha mình. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Trong lúc thảng thốt đó, tôi hết sức lấy làm ngạc nhiên. Việc thỉnh thoảng không suy nghĩ gì cả để mặc cho đầu óc tâm trí vẩn vơ với trời trăng, mây, nước, thiên nhiên là chuyện thường tình với mỗi người, thì đối với một người mà cả cuộc đời miệt mài tư duy, suy nghĩ làm việc lo toan cho Tổ quốc, dân tộc lại là điều không bình thường. Ông vẫn thường dạy chúng tôi rằng cách mạng là sáng tạo và cuộc đời ông thực sự là một tấm gương đối với chúng tôi về sự sáng tạo không ngừng.

Ba tôi kể rằng khi còn ở nhà tù Côn Đảo, bọn cai ngục nghĩ ra mọi hình thức để hành hạ tra tấn các chiến sĩ cách mạng nhằm làm lung lạc ý chí đấu tranh của họ. Mỗi một bữa ăn chúng đều đứng hai bên cánh cửa xà lim, hễ tù nhân nào đi qua, chúng đều dùng roi đánh hết sức tàn bạo lên người họ. Nhiều người chịu không nổi đã gục ngã.

Ba tôi đã chọn một giải pháp độc đáo. Đó là khi thấy ngọn roi của bọn cai ngục đánh xuống là ông chớp thời cơ để vượt qua cửa trong khi chúng chưa kịp đưa roi lên để đánh tiếp.

Nhờ vậy ông đã duy trì được sức chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng. Mẹo tuy nhỏ nhưng không phải ai lúc bấy giờ cũng biết cách để đối phó với sự tàn bạo của quân thù.

Trong quá trình đề ra đường lối cho cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược, ông luôn luôn nhắc nhở các đồng sự của mình rằng kinh nghiệm khi nào chúng ta độc lập, sáng tạo trong đường lối thì khi đó chúng ta thành công. Khi đó không ít người coi phương cách tiến hành chiến tranh của các nước XHCN lớn như một thứ cẩm nang trong việc xác định đường lối cách mạng cho Việt Nam thì ông lại có tư duy khác.

Chúng ta cùng với bạn có quan điểm trường kỳ kháng chiến (đánh lâu dài). Nhưng sự khác nhau cơ bản ở chỗ bạn chủ trương chia cuộc kháng chiến làm ba giai đoạn: Cầm cự - phòng ngự - phản công. Đảng ta ngay từ đầu xác định tư tưởng chủ đạo của chiến tranh cách mạng Việt Nam là tiến công. Ba tôi vẫn thường nói quy luật một cuộc chiến tranh của một nước nhỏ chống lại một nước lớn, thì phải xác định đánh lâu dài.

Tuy nhiên, cái trường kỳ của ta không thụ động mà là chủ động đánh lâu dài với nghệ thuật biết chiến thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Cũng là đất nước mà lực lượng đông đảo là nông dân nhưng chúng ta không chủ trương lấy nông thôn bao vây thành thị mà áp dụng cách đánh "ba mũi giáp công", "Ba vùng chiến lược".

Đường lối quân sự của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là sự kế thừa truyền thống chống ngoại xâm và tài thao lược của ông cha ta thuở trước. Luôn luôn chủ trương đánh lâu dài có khi hàng chục năm ròng rã, song cũng không ít lần đã thực hiện thần tốc chiến thắng chỉ trong mười ngày đã quét sạch giặc xâm lăng ra ngoài bờ cõi.

Nhưng ở bất kỳ thời nào dân tộc ta đều ở thế lấy ít địch nhiều, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn. Truyền thống đó được phát triển nâng lên một trình độ mới khi nó được gắn liền với tư tưởng quân sự của Mác - Lênin. Trong tác phẩm "Đề cương cách mạng miền Nam ", ba tôi đã thể hiện được linh hồn của đường lối đó.

Trong cuốn hồi ký do các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta viết về cha tôi, nhà xuất bản đã lấy tên cuốn sách "Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của Việt Nam " (NXB Chính trị quốc gia - 2002) cũng thể hiện tư chất nổi bật đó. Trong sự nghiệp sáng tạo của cha tôi có lẽ cái lớn nhất là hệ thống lý luận về nghệ thuật quân sự.

Đó là cái mà theo tôi ông đã đúc kết được từ tinh hoa nghệ thuật quân sự của cha ông ta từ ngàn năm thông qua lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc cùng với phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để sáng tạo ra một nghệ thuật quân sự độc đáo có một không hai của Việt Nam, một nước nhỏ để có thể thắng một nước khổng lồ là nước Mỹ.

Giáo sư Trần Nhâm đã có hai cuốn sách thuộc loại nghiên cứu lý luận phân tích tương đối công phu về một phần của nghệ thuật quân sự trên. Đó là tác phẩm "Nghệ thuật biết chiến thắng từng bước" và mới đây là cuốn "Cuộc đấu trí ở tầm cao trí tuệ Việt Nam " (NXB Chính trị quốc gia - 2005).

Thực ra trước và sau đó đã có bài viết, bài nói về nghệ thuật chỉ đạo quân sự của cha tôi. Song đây có thể coi là tài liệu nghiên cứu, trình bày hoàn chỉnh nhất về mặt lý luận một số quan điểm quân sự của Đảng ta mà cha tôi là người khởi xướng.

Hệ thống các quan điểm về chỉ đạo quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước gồm: Sức mạnh tổng hợp; chủ động - tiến công; lấy nhỏ thắng lớn; nghệ thuật biết chiến thắng từng bước; quan điểm đấu tranh lâu dài; quan điểm về xây dựng căn cứ cách mạng; quan điểm về sử dụng hai lực lượng (chính trị - quân sự) hay còn gọi là "Hai chân"; quan điểm ba mũi giáp công - ba vùng chiến lược; quan điểm về ba thứ quân (bộ đội chủ lực - bộ đội địa phương - dân quân tự vệ).

Sáng tạo và chờ đợi thoạt trông không hề có mối quan hệ gì với nhau. Nhưng trong phương pháp làm việc của ba tôi thì nó lại gắn kết chặt chẽ với nhau thông qua việc đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác lãnh đạo. Khi đã gọi là sáng tạo tức là nói về cái mới hình thành, mới xuất hiện thì để có được sự đồng tình, ủng hộ của tất cả mọi người ở vào cái thời điểm mới xuất hiện là một vấn đề khó khăn. Bản chất của tư duy là một quá trình.

Ba tôi thường tâm sự với chúng tôi rằng cách mạng là sự nghiệp chung. Phương pháp lãnh đạo của Đảng, là phương pháp tập thể nên một khi ý kiến của mình dù thế nào cũng phải có sự nhất trí. Điều đó vừa đảm bảo sự đoàn kết nhất trí trong Đảng vừa đảm bảo tính dân chủ trong phương pháp làm việc.

Từ đó, ông nêu khái niệm chờ đợi. Ông nói một khi ý kiến của mình chưa đạt sự thống nhất cao thì phải biết chờ đợi đồng chí mình, phải biết làm cho đồng chí mình hiểu, ủng hộ và cùng làm. Đó cũng là một phẩm chất của người lãnh đạo.

Người ta có thể có nhiều cách nghĩ khác nhau về phương pháp lãnh đạo đó của ông. Riêng tôi là một người con, tôi thấy đó là cách lãnh đạo mang tính nhân văn cao. Sự chờ đợi đó chính là sự thể hiện uyên thâm của chữ Nhẫn. Thể hiện cái chất cộng sản cao quý mà trong đó cái tôi luôn luôn đứng sau cái chúng ta.

Đó cũng là cách lãnh đạo thực hiện nghiêm túc lời dạy trong di chúc của Hồ Chủ tịch "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công!"

Lê Kiên Trung

Các tin khác

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.