Thời đầu khó
Nằm bên dòng sông Côn hiền hòa, trù phú; Tây Sơn là một trong số ít các huyện may mắn được thiên nhiên ban tặng cho dải đất phì nhiêu, màu mỡ. Trên nền đất giàu phù sa ấy, làng rau Thuận Nghĩa ra đời. Có tiếng trong vùng nhưng rau Thuận Nghĩa vẫn chưa thể khẳng định được “thương hiệu” để vươn xa. Chủ nhiệm HTX Thuận Nghĩa, ông Quách Văn Cầu nhớ lại: “Có tiếng là vùng đất mỡ màng, trồng thứ gì cũng xanh tốt, nhưng từ năm 2000 trở về trước, địa phương vẫn có đến hàng trăm héc ta đất bị bỏ hoang. Thời đó, chuyện người nông dân biết ứng dụng KHKT vào sản xuất hiếm hoi lắm! Việc trồng trọt chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, thói quen là chính. Thậm chí, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt không phải là ít”.
Chuyện tương tự cũng xảy ra ở làng rau Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước. Tập quán canh tác “Được hay mất nhờ trời” vẫn cứ bám riết lấy người nông dân. Cách tiếp cận, khai phá vùng đất màu mỡ để phát triển sản xuất một cách phù hợp nhất, bà con vẫn còn rất mù mờ. Câu chuyện “làm trước, ăn sau” hoặc “làm rồi, trắng tay” cứ thế lặp đi lặp lại trong nghiệp nhà nông.
Không chỉ ở lĩnh vực trồng trọt, thời kỳ thiếu các kiến thức KHKT còn đeo đuổi những nông dân chăn nuôi bò ở xã Nhơn Lộc, thị xã An Nhơn. Cũng nằm dọc sông Côn, xã Nhơn Lộc “sở hữu” những thảm cỏ xanh mướt, thuận lợi cho việc chăn nuôi gia súc. Nhưng vẫn với cách chăm sóc truyền thống, dựa vào thói quen là chính, chuồng trại lụp xụp, thiếu che chắn, lại không biết tận dụng nguồn thức ăn thô, tinh dồi dào nên hiệu quả sản xuất rất thấp, thậm chí là thua lỗ.
Nông dân Hồ Minh Thương, ở thôn Cù Lâm, hồi tưởng: “Tôi mua được 2 con bò thịt, định bụng vỗ béo để bán tạo đà phát triển kinh tế gia đình. Bẵng đi một thời gian, bò người ta to lớn, chắc khỏe, ngược lại bò mình èo uột, chậm lớn. Hỏi dò bà con xung quanh thì mới biết do tôi tuân theo nếp sản xuất cũ, chăm bò theo kiểu “trời sinh bò ắt sinh cỏ”. Mất nhiều thời gian để xuất bán bò đồng nghĩa với việc “vốn công sức” của mình cũng tăng lên. Chuyện thua lỗ là tất yếu”.
Khi nông dân “bắt tay” với KHKT
Đầu năm 2011, được sự hỗ trợ của Cơ quan phát triển quốc tế NewZealand thông qua Dự án Sinh kế nông thôn bền vững, Ban quản lý Dự án đã chọn “mảnh đất” Thuận Nghĩa và Luật Chánh để thành lập nhóm cùng sở thích sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Cùng với đó, nhà tài trợ còn tổ chức đào tạo, hướng dẫn nông dân quy trình sản xuất theo kỹ thuật hiện đại, đảm bảo chất lượng. Như “diều gặp gió”, bà con nơi đây xắn tay vào xây dựng mô hình. Lúc ấy, Thuận Nghĩa có 28 hộ nông dân mạnh dạn tham gia, đồng sản xuất trên 1 ha rau. Con số của những ngày đầu không lớn nhưng đã cho thấy tinh thần cầu tiến trong sản xuất của bà con nông dân, đồng thời hứa hẹn mở ra triển vọng mới.
“Được sự hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời UBND huyện và chính quyền địa phương trong việc quy hoạch vùng sản xuất, tổ chức cho nông dân tham quan, học tập và áp dụng quy trình sản xuất RAT theo tiêu chuẩn VietGAP, nên sản phẩm hàng hóa chất lượng cung cấp cung ứng cho thị trường tăng lên đáng kể, góp phần tăng thu nhập cho nông dân”, ông Trần Văn Trinh, Phó Chủ nhiệm HTX Thuận Nghĩa, bộc bạch.
Hành Luật Chánh, xã Phước Hiệp (huyện Tuy Phước), không chỉ nổi tiếng ở Bình Định mà còn có khách hàng khắp Tây Nguyên.
Chuyện người nông dân áp dụng KH-KT vào sản xuất không còn là chuyện hiếm ở Bình Định. (Trong ảnh: Thành công từ Luật Chánh cho phép chúng ta hy vọng nhiều hơn về “rau sạch nhãn hiệu Bình Định”).
Tại thời điểm này, ở thôn Luật Chánh, cũng có 27 nông dân tham gia nhóm cùng sở thích thực hiện thành công mô hình trên diện tích 2 ha. Ông Trần Thế Vinh, một trong những người trực tiếp tham gia mô hình, cho biết: “Qua thời gian áp dụng quy trình sản xuất chuẩn, người nông dân nhận thấy sản xuất theo hướng rau an toàn đã giảm được chi phí đầu tư nhờ bón phân và phòng trừ sâu bệnh đúng cách, đúng thời điểm. Nông sản không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và hóa chất, nên người tiêu dùng rất ưa chuộng”.
Bàn về hiệu quả kể sau khi “bắt tay” với cách làm mô hình rau VietGAP tại địa bàn, ông Quách Văn Cầu, Chủ nhiệm HTX Thuận Nghĩa, hồ hởi: “Hiệu quả từ cách làm khoa học này mang lại thể hiện rất rõ. Quan trọng hơn, ý thức về việc trồng rau sạch người nông dân ngày được nâng cao”. Để chứng thực hiệu quả như lời nói của vị Chủ nhiệm HTX, lão nông Đào Văn Minh, 54 tuổi, ở tổ 2, khối Phú Phong, thị trấn Phú Phong chỉ tay về 900m2 đất đang dùng để canh tác cải ngọt theo mô hình VietGap mà ông học tập và áp dụng trước đó. Ông nói chắc bắp: “1 sào đất trồng cải ngọt vừa thu hoạch cách đây 3 ngày, năng suất đạt 3 thiên (300 kg). Giá bán cao hơn rau thông thường từ 20-30%”.
Thấy được hiệu quả từ mô hình sản xuất rau VietGap, ngày càng có nhiều gia đình tham gia. Đến nay, tại khối Thuận Nghĩa, thị trấn Phú Phong đã có tất cả 65 hộ dân tham gia. Làng rau Luật Chánh, đến nay có 84 hộ tham gia sản xuất VietGAP trên diện tích 6,5 ha. Không chỉ trong sản xuất rau VietGap, bà con còn mạnh dạn đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa nông nghiệp máy cày, máy làm đất, máy bơm nước; đưa các giống lúa ngắn ngày, chất lượng cao vào sản xuất… cho năng suất từ 70 - 73 tạ/ha. Bên cạnh đó, bà con nông dân nhạy bén với thị trường, nhiều hộ nông dân trồng bí xanh, bí ngô, ngô, bắp cải, vụ đông sớm để cho giá trị kinh tế cao; áp dụng phương thức trồng gối vụ giữa bí xanh, bí ngô và lúa, trồng gối đỗ tương trước khi thu hoạch ngô giống... Kết quả sản xuất vụ đông tại xã những năm gần đây, nhất là giá trị và thu nhập của rau màu vụ đông sớm ngày càng được mở rộng, đã hình thành cánh đồng chuyên canh rau màu cho hiệu quả kinh tế từ 150-200 triệu đồng/ha/năm.
Ở Nhơn Lộc, chuyện nông dân ứng dụng các tiến bộ KHKT kỹ thuật để phát triển chăn nuôi cũng mang lại hiệu quả đáng kể. Kể từ tháng 7.2001, sau khi Trung tâm Khoa học kỹ thuật vật nuôi Bình Định thực hiện hợp phần khuyến nông chăn nuôi với nội dung vỗ béo bò ở nhiều địa phương trong tỉnh, Nhơn Lộc nổi bật lên là địa phương áp dụng thành công nhất mô hình này. Cái tên làng vỗ béo bò Cù Lâm cũng bắt đầu gắn liền với Nhơn Lộc từ đó.
Ông Cao Văn Nghĩa, Chủ tịch UBND xã Nhơn Lộc, cho biết: Được sự hướng dẫn kỹ thuật nuôi vỗ béo bò của ngành Nông nghiệp tỉnh và hiệu quả cao từ nghề này đã thu hút nhiều hộ tham gia. Đến nay, toàn xã hiện có 1.500 hộ tham gia nuôi vỗ béo bò với tổng đàn trên 3.000 con, tập trung tại các thôn Cù Lâm, Trường Cửu, Tân Lập… Để tạo điều kiện cho người dân phát triển chăn nuôi, UBND xã đã triển khai dự án hỗ trợ lãi suất vốn vay cho bà con với mức ưu đãi 0,4%/tháng, thời gian vay 4 tháng; mỗi hộ được vay 20 triệu đồng để mua bò giống. Dự án Sinh kế nông thôn bền vững của tỉnh cũng đang hỗ trợ nông dân Nhơn Lộc nuôi vỗ béo bò, mang lại hiệu quả tích cực.
Góp thêm tiếng nói khẳng định vai trò chủ đạo của đổi mới phương pháp chăn nuôi trong việc đem lại hiệu quả cao, còn có “vua” bò Nguyễn Ngọc Anh ở thôn Cù Lâm. Lý giải về danh xưng “vua” bò mà bà con ưu ái dành tặng cho mình, ông Anh cho biết: “Nắm bắt rõ cách thức, quy trình chăm sóc, kết hợp với kinh nghiệm thực tế sẽ làm nên những thành quả. Tỉ như, nguồn thức ăn để nuôi vỗ béo bò khá phong phú và dễ tìm; ngoài rơm, rạ dồi dào sẵn có sau mỗi vụ thu hoạch lúa tại chỗ, người chăn nuôi chỉ cần trồng thêm cỏ voi kết hợp pha trộn một số loại thức ăn tinh như cám, bã hèm; không quên tiêm vắc xin phòng bệnh, xổ giun, sán là nuôi bò hiệu quả. Mỗi đợt tôi nuôi vỗ béo từ 2-3 con bò, sau 3-4 tháng là xuất chuồng, mỗi năm tôi nuôi 3 lứa, thu lãi 30-40 triệu đồng/lứa”.
Trong năm 2014, để tạo điều kiện cho người chăn nuôi phát triển sản xuất, xã Nhơn Lộc đã thành lập 4 nhóm cùng sở thích chăn nuôi bò thịt gồm 110 hộ do Dự án sinh kế bền vững nông thôn tài trợ 200 triệu đồng/nhóm để đầu tư phát triển chăn nuôi bò thịt. Thành viên trong tổ được tập huấn vào thứ 7 hàng tuần theo chương trình của dự án. Kết quả, đến nay xuất bán 240 con bò, lãi 650 triệu đồng.
Thay cho lời kết
Làm giàu trên đất quê hương bằng chính công việc nghề truyền thống là khát vọng chính đáng của mỗi người nông dân. Trên con đường đến với thành công, ngoài đức tính cần mẫn, chăm chỉ người nông dân cần có thêm sự “chắp cánh” của KHKT. Những thành quả của các làng nghề nông nghiệp đã khẳng định tính đúng đắn từ những thành tựu KHKT mang lại. Đáng mừng, ở tất cả các mô hình người dân đều ủng hộ, tham gia nhiệt tình. Người nông dân trên địa bàn tỉnh tiếp tục mong mỏi nhận thêm nhiều hỗ trợ mang ý nghĩa “trao cần câu” như vậy để thêm mạnh mẽ cho lựa chọn gắn bó, làm giàu trên chính mảnh đất quê hương