Cũng như những người lính, hàng trăm nhà báo đã anh dũng ngã xuống trong các cuộc chiến tranh giữ nước từ năm 1946 đến nay. Theo một thống kê cách đây hơn chục năm, con số nhà báo hi sinh trong các cuộc chiến tranh là trên 400 người, tuy không phải là nhiều ở một nơi mà vì độc lập tự do của đất nước, đã có trên 1.000.000 người ngã xuống.
Cũng có thể khẳng định, số nhà báo đã hi sinh trên chiến trường ở Việt Nam là cao nhất so với mọi cuộc chiến tranh trên thế giới từ trước tới nay, kể cả hai cuộc đại chiến lần thứ nhất và lần thứ hai. Nghề này quả là một nghề đặc biệt nguy hiểm, nếu không có lòng dũng cảm, ý thức cao cả, dám hi sinh tính mạng cho nghề, cho Tổ quốc sẽ không trụ được.
Cũng cần nói thêm, giữa hàng chục cơ quan báo chí đòi hỏi phóng viên phải có mặt ngay tại nơi xảy ra sự kiện để làm nghề thì Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN, trước là Việt Nam Thông tấn xã) có số người hi sinh trong khi làm nhiệm vụ cao nhất. Số nhà báo liệt sĩ của TTXVN là hơn 200 người, chiếm già nửa trong số hơn 400 nhà báo liệt sĩ đã được xác minh. Và họ không chỉ hi sinh hoặc chấp nhận cuộc sống gian khổ trên đất Việt Nam. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc và của hai nước anh em Lào và Campuchia, nhiều nhà báo đã ngã xuống trên đất bạn.
Nhân dịp Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam năm nay, tôi muốn kể về một con người như thế. Anh từng là phóng viên cùng phòng với tôi, hiện là một cán bộ nghỉ hưu, đang sống những năm tháng cuối đời của mình lặng lẽ, khiêm tốn ở một khu tập thể của TTXVN. Người đó là nhà báo Nguyễn Tử Nên, nguyên Tổ trưởng Tổ phóng viên TTXVN tại Lào.
Cần nói rõ hơn về bối cảnh những năm tháng chiến tranh. Để thắng được hai đế quốc là Pháp và Mỹ, chiến trường ba nước Đông Dương phải phối hợp với nhau, nhân dân ba nước phải đoàn kết cùng nhau đánh giặc. Vì vậy, hàng vạn thanh niên Việt Nam đã xung phong vào các đội quân tình nguyện, chiến đấu, hi sinh quên mình trên các chiến trường nước bạn (chiến trường Lào lúc ấy gọi là chiến trường C, Campuchia là chiến trường D) không chỉ riêng trên chiến trường Việt Nam.
Cũng như các ngành khác, TTXVN vừa đảm trách thông tin vừa được phân công giúp các bạn Lào, Campuchia xây dựng Thông tấn xã (TTX) Lào, TTX Campuchia. Nguyễn Tử Nên là một trong số cán bộ, phóng viên TTXVN được cử sang Lào làm nhiệm vụ, địa bàn của anh là Cánh đồng Chum-Xieng Khuang, vùng giải phóng của mặt trận Lào yêu nước.
Cánh đồng Chum là một đồng cỏ rộng giữa bốn bề núi thuộc tỉnh Xieng Khuang, gần như đối diện tỉnh Nghệ An của Việt Nam bên kia biên giới, nơi có hàng ngàn chiếc chum bằng đá nặng hàng tấn có tuổi khoảng 2.000 đến 1.500 TCN nằm rải rác. Bãi chum đá khổng lồ và bí ẩn này là nơi ác liệt nhất trong hai cuộc chiến tranh, nhất là cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành thường được gọi là “Cuộc chiến tranh bí mật” (1965-1975) ở Lào.
Đã có nhiều bài báo kể lại tấm gương anh dũng của các nhà báo chiến trường ở Việt Nam nhưng còn ít những bài báo như thế về họ trên các chiến trường ngoài nước. Ra đi rất bí mật. Ngoài trang bị cho một người lính, họ phải để lại phía sau mọi thứ, kể cả tên tuổi. Nơi ở của họ là nhà dân hoặc những chiếc lán nhỏ tranh nứa, xung quanh dày đặc hầm hào. Họ phải viết bài dưới ánh đèn dầu hoặc ánh lửa từ nhựa thông, gửi tin bài về tổng xã bằng máy phát moóc dùng nguồn điện từ máy điện quay tay.
Tổ phóng viên do Nguyễn Tử Nên lúc đầu còn có phóng viên ảnh Ngô Minh Đạo và điện báo viên Nguyễn Danh Bưởi nhưng sau cả 2 người này đều lần lượt về nước vì lý do sức khỏe. Tổ đã phải chịu đựng cảnh thiếu thốn, đói gạo, thiếu thuốc chữa bệnh, sốt rét rừng liên miên trong nhiều năm tháng như thế. Mùa mưa, mưa dầm dề, quần áo ướt cả tuần không khô, lương thực thiếu thốn, có lần đi công tác, địch nống ra chiếm lại Cánh đồng Chum cắt đường về hậu cứ, tổ phải ở trong nhà dân cả tuần. Đêm rệp từng đàn tìm hơi người. Rắn hổ mang bò vào tận chỗ nằm. Cơm chỉ có ớt dầm muối chấm với xôi, không quen không ăn được, Đau ốm, thiếu thốn đủ bề. Nhưng chính trong những ngày gian khổ đó, tình cảm của những người anh em trong TTX Lào đã vực anh dậy.
Một lần sau khi ta đánh thắng chiến dịch Cù Kiệt của địch, giải phóng trở lại Cánh đồng Chum, Nguyễn Tử Nên được cử đi xã Khai, một điển hình chiến đấu và phục vụ chiến đấu giỏi cùng hai phóng viên bạn. Từ nơi ở của tổ phóng viên tới xã Khai chỉ nửa ngày đi bộ nhưng phải qua một trọng điểm máy bay Mỹ đánh phá suốt ngày đêm.
Sau khi nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của máy bay địch, 3 người chọn thời điểm từ 3h đến 6h chiều là thời gian chúng ít hoạt động hơn cả để vượt trọng điểm. Vừa qua được trọng điểm vài trăm mét thì nghe tiếng máy bay. Nguyễn Tử Nên cùng hai phóng viên Lào lao vội xuống hầm dã chiến của công binh đào từ trước. Chưa kịp vào hầm, một ánh chớp lóe lên cùng tiếng đất đá rào rào, tiếng cành cây gẫy răng rắc trong khói bom mù mịt. Chân phải của anh bị một tảng đất lớn quật phải, đau tê dại, không thể tự đi được, phải dìu.
Sau khi xoa dầu tránh tụ máu, hai phóng viên bạn đã dìu anh trong đêm tối, gần sáng thì đến nhà Chủ tịch xã Khai. Vừa cung cấp tài liệu viết báo cho phóng viên, ông Chủ tịch xã vừa lấy lá rừng chườm vết thương cho Tử Nên. Phía ngoài đường 7, tiếng bom Mỹ vẫn giội lên từng hồi, đất dưới chân rung lên theo tiếng bom nổ.
Một lần khác, tranh thủ ngày có ánh nắng, Nguyễn Tử Nên ra suối tắm giặt, ở nhà chỉ có điện báo viên Phôm ma (sau nay là Phó Tổng giám đốc TTX Lào LPK) thì bom ném thẳng vào nơi ở của tổ phóng viên. Đang dưới suối, thấy chiếc OV-10 lượn lờ trên đầu rồi bắn một quả pháo hiệu xuống khu vực của tổ, anh vừa lao vào hầm thì bom nổ chát chúa. Tan đợt bom, chui khỏi hầm, trước mắt anh là cảnh tan hoang. Chiếc máy liên lạc vô tuyến 15W nằm lăn lóc, dây ăng ten đứt vụn. Đất đá văng đầy giường. Thấy Phôm ma từ trong một ngách hầm chui ra, đầu tóc đầy bụi đất. Cả hai ôm lấy nhau khóc vì vui mừng.
Những chuyện như thế còn rất nhiều. Nhưng trong bom đạn của kẻ thù, vẫn ánh lên những giây phút bình yên đầy cảm động. Đó là cả tổ phóng viên tíu tít ăn mừng khi Phôm ma loay hoay cả buổi, cuối cùng cũng chữa được chiếc máy vô tuyến điện bị bom phá. Đang câm lặng bỗng máy reo tín hiệu từ đầu bên kia. Đối với những nhà báo xa nhà, xa đất nước, những tín hiệu đó là quê hương, là Tổ quốc. Nó còn lảnh lót hơn tiếng chim rừng.
Chính từ phương tiện truyền tin thô sơ này, tin bài của tổ phóng viên đã được phát trên các bản tin của TTX KPL và TTXVN, cung cấp nội dung cho buổi phát thanh “Nhân dân Đông Dương đoàn kết chống Mỹ” của Đài Tiếng nói Việt Nam cùng nhiều tờ báo khác, cung cấp kịp thời thông tin về cuộc chiến tranh ở Lào. Đó là khi vào lúc đang sắp giao thừa của Tết Việt Nam, các bạn Lào đã lặn lội đi tìm được một củ mỡ rồi khui thịt hộp nấu một nồi cháo liên hoan. Đang sốt rét, nhớ nhà, nhưng các phóng viên Việt Nam đều ứa nước mắt vì cảm động.
Sau một thời gian công tác tại chiến trường Lào, Nguyễn Tử Nên đã trở về và sau đó còn nhiều năm công tác nữa trước khi nghỉ hưu. Nghỉ công tác trong biên chế nhà nước nhưng không nghỉ nghề, anh vẫn hàng ngày viết báo, viết sách. Năm 2010, anh đã được NXB Quân đội nhân dân in cuốn “Phong cách Bác Hồ” ghi lại những cảm nghĩ của mình về tấm gương cách mạng, đạo đức, nhân ái sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngoài sách, Nguyễn Tử Nên còn viết nhiều bài báo trong đó có rất nhiều bài viết về những kỷ niệm thời gian anh công tác tại nước Lào. Với anh, đó là những năm tháng gian khổ nhưng đầy tự hào của một nhà báo, những năm tháng được chia sẻ với các bạn Lào, được hòa chung dòng máu với những chiến sĩ tình nguyện Việt Nam, sẵn sàng hi sinh cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Việt Nam cũng như của nước Lào anh em như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thế hệ các nhà báo từng lăn lộn trên các chiến trường trong nước và ngoài nước, không ngại hi sinh vì đất nước, vì sự nghiệp báo chí cùng với Nguyễn Tử Nên rồi sẽ ngày một già nua, thưa vắng. Họ là người của một thời. Nhưng sự hi sinh và chiến công của họ sẽ còn mãi trong lịch sử báo chí cách mạng như một dấu son không phai mờ