Chuyện về một "Kinh Kha" đặc biệt trong Kế hoạch CM-12

Ông từng là "tay chân" thật sự của bọn Lê Quốc Túy - Mai Văn Hạnh; từng được xem là một "Kinh Kha" với ám danh K64, được tin cậy giao nhiệm vụ: Tổ chức cho bọn gián điệp, biệt kích, vũ khí, tiền giả... vào Việt Nam bằng đường biển để lập "căn cứ" tại rừng U Minh, làm cơ sở cho việc thực hiện mưu đồ thâm độc của Túy - Hạnh. Thế nhưng ngay trong chuyến xâm nhập đầu tiên, vừa đặt chân xuống bãi biển Cà Mau nơi ông được chôn nhau, cắt rốn, K64 đã quyết định đến cơ quan Công an tự thú với niềm tin: Đó là con đường duy nhất để ông có cơ hội đoàn tụ với gia đình.
>> Thiếu tướng Anh hùng Trần Tôn Thất trong Kế hoạch CM-12

Bị khuất phục bởi tấm lòng nhân ái, bao dung của những cán bộ Công an nên K64 đã xin được "lập công chuộc tội". Kết thúc Kế hoạch CM-12, không chỉ được xóa tội mà K64 còn vinh dự được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì cùng nhiều Bằng khen của Bộ Công an và Tổng cục An ninh.  Nhân kỷ niệm 26 năm ngày kết thúc thắng lợi Kế hoạch CM-12, Bộ Công an chuẩn bị lễ khánh thành Khu di tích lịch sử Quốc gia Hòn Đá Bạc, PV Chuyên đề ANTG đã về Cà Mau tìm K64 - con người mà bấy lâu nay, báo chí chưa có điều kiện để viết về ông...

Nhờ sự giúp đỡ tận tình của một cán bộ Công an huyện Trần Văn Thời (Cà Mau), chúng tôi tìm được nhà của K64, ở khóm 1, thị trấn Trần Văn Thời. Đó là một người đàn ông có nước da ngăm đen rất đặc thù của miệt biển Cà Mau. Ngồi trò chuyện với tôi trước hiên nhà nằm trên bờ sông Đốc lộng gió, K64 cho biết: "Tên đầy đủ của tôi là Phạm Công Danh, bà con địa phương trước giờ vẫn quen gọi là Sáu Danh. Năm nay, tôi bước vào tuổi 57".

Thực tế, trước khi đi tìm và gặp được nhân vật Sáu Danh, tôi cũng đã gặp nhiều cán bộ công an lão thành, từng tham gia vào Kế hoạch CM-12 với vai trò rất quan trọng như Anh hùng LLVTND Trần Phương Thế (Tám Thậm) - nguyên Phó giám đốc Công an Cà Mau, Thiếu tướng Hồ Việt Lắm (Mười Lắm) - nguyên Cục trưởng Cục An ninh Tây Nam Bộ... Các đồng chí ấy cho biết, sở dĩ ông Hai Tân (Anh hùng LLVTND Nguyễn Phước Tân), khi còn sống rất rành về nhân vật K64 là do ông được giao làm Tổ trưởng Tổ K4/2, bộ phận chỉ đạo chuyên án đấu tranh với bọn Túy - Hạnh. Đồng chí Hai Tân đã đọc kỹ từng lời khai của Sáu Danh từ ngày đầu tiên (ngày 16/5/1981), khi Sáu Danh đến Công an huyện Trần Văn Thời trình diện. Và trong suốt thời gian diễn ra Chuyên án, từng kế hoạch tỉ mỉ mà Ban chuyên án vạch ra cho Sáu Danh thực hiện, đồng chí Hai Tân đều được biết hoặc trực tiếp tham gia chỉ đạo.

Sáu Danh kể, quê gốc của ông ở xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời. Từ năm 1965, ông thoát ly gia đình tham gia Cách mạng. Đơn vị (Sư đoàn 9) của ông đóng quân và chiến đấu ở chiến trường Tây Ninh. Trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, ông bị thương nặng ở chân và được đưa về hậu cứ dưỡng thương cho tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Sau giải phóng, ông chuyển ngành sang làm  ở Ty Thủy sản tỉnh Minh Hải (nay là Cà Mau, Bạc Liêu). Được phân công làm Trưởng ban của Ty đóng ở huyện Trần Văn Thời. Do ham ăn chơi, ông đã bị kỷ luật và tỏ ra bất mãn. Vậy là trong ý nghĩ của Sáu Danh lúc bấy giờ, chỉ có con đường vượt biên, đến với “miền đất hứa” mới có thể thực hiện giấc mộng làm giàu.

Hớp một ngụm trà, Sáu Danh nhớ lại chuyện 30 năm về trước: "Đầu năm 1980, tôi tự tìm tàu rồi tổ chức vượt biên bằng đường biển từ Cà Mau. Khi sang đến vùng biển Thái Lan, tàu của tôi có đến 9 lần gặp bọn hải tặc. Bọn chúng lên tàu trấn lột sạch sành sanh vàng bạc, nữ trang. Sau đó, tôi bị nhốt vào trại tị nạn S.K ở nước ngoài. Trại này do Liên Hiệp Quốc lập nên để chứa dân vượt biên vùng bán đảo Đông Dương, chủ yếu là dân Việt Nam ".

Tại trại S.K., Sáu Danh gặp một số người quê gốc Châu Đốc (An Giang) biết nguồn gốc của ông. Số này tố cáo ông là "Cộng sản". Và chính do lời tố cáo này, Sáu Danh không được chuyển đến nước thứ ba sinh sống vì không có phái đoàn nào nhận. Đang ở trong tình trạng bị cầm giữ, bỗng có người Việt Nam từ ngoài vào gặp. Anh ta tự giới thiệu với Sáu Danh tên là Trần Văn Vẻn (sau đó tên này giữ vai trò tham mưu cho Túy, với ám danh là K12), người Cà Mau. Vẻn rủ Sáu Danh theo anh ta ra ngoài nhưng không cho biết mục đích.  Khoảng một tháng sau đó, Vẻn quay trở lại Trại S.K. Lợi dụng sơ hở của toán bảo vệ trại, Vẻn leo rào vào và kéo Sáu Danh cùng trốn ra ngoài. Danh được Vẻn lái ôtô đưa đi hôm đó, và được Vẻn giới thiệu gặp một người đàn ông Việt Nam to, cao như Tây. Đó chính là Mai Văn Hạnh - đồng chủ tịch với Lê Quốc Túy của cái gọi là "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam ".

Chuyện về một "Kinh Kha" đặc biệt trong Kế hoạch CM-12 ảnh 1

PV Chuyên đề ANTG trò chuyện với K64 (bên trái).

Sau cuộc gặp này, Sáu Danh được Hạnh chấp nhận cho tham gia vào tổ chức trên. Thời điểm này, bọn Túy - Hạnh đã tung toán biệt kích mang tên "Minh Vương 1" về nước bằng đường bộ và tiếp tục tổ chức huấn luyện khóa "Minh Vương 2" tại "Mật cứ Tự Thắng". Sáu Danh kể, khóa này có tổng cộng 26 "Kinh Kha" và được Túy - Hạnh đặt ám danh từ K42 tới K68. Sáu Danh nằm trong tốp cuối được tham gia lớp. Trong tốp này, ngoài Sáu Danh, cũng có một số đối tượng vốn là cán bộ nhà nước nhưng đã biến chất, thoái hóa, đào ngũ trốn ra nước ngoài. Đó là Trịnh Văn Kiếm (K59) và Doãn Trung Dũng (K61), đều cùng quê Cà Mau với Sáu Danh. Kiếm và Dũng trước đây là cán bộ công an trại giam, do không chịu rèn luyện, lại thích ăn chơi, nhậu nhẹt, vô ý thức tổ chức kỷ luật rồi vượt biên và sau đó bị lôi kéo tham gia vào tổ chức của Túy - Hạnh.

Cũng xin có đôi dòng nói thêm về cách đặt ám danh của bọn Túy, Hạnh. Chúng xem bọn thuộc cấp giống như những "Kinh Kha" (môn khách của Thái Tử Đan nước Yên, tên tuổi này rất nổi tiếng vì đã ám sát bất thành Tần Thủy Hoàng - PV). Thế là chúng lấy chữ "K" rồi cộng thêm số thứ tự của từng tên gián điệp biệt kích. Với những "hạt giống" được tuyển chọn từ khóa đào tạo tại "Mật cứ Tự thắng" có tên là "Thiên hoàng" (cùng được mở tại nước ngoài sau các khóa Minh Vương 1, 2, 3), chúng đặt là "HK", nghĩa là "Hậu Kinh Kha". Còn ở trong nước, ám danh được các "Kinh Kha" nhập kích về gây dựng đặt cho các "đầu mối" tham gia vào "Tổ đặc biệt" của chúng (thực ra là lực lượng An ninh của ta) là "NK" kèm với số thứ tự.

Sáu Danh được chọn vào lớp truyền tin cùng với 3 đối tượng khác gồm: Lý Văn Tâm (K65), Thạch Hoàng Minh (K66) và Trịnh Hoàng Minh (K68) cũng được Trần Văn Vẻn và Bùi Văn Nam Sơn tuyển từ trại tị nạn S.K. Cũng như các "học viên" khác cùng khóa huấn luyện, ngoài việc luyện tập quân sự, cách sử dụng vũ khí, Sáu Danh kể ông cũng phải lao động, phá rừng, chặt cây, dựng trại... rất vất vả. Sau những buổi lao động, nhiều K đã ngất xỉu, thậm chí bị quật ngã bởi những cơn sốt rét rừng... Nhiều K đã không chịu nổi cảnh khổ cực và đã bỏ trốn khỏi nơi huấn luyện. Có K đã bị cảnh sát địa phương bắt và giao lại cho Túy - Hạnh. Và Túy - Hạnh đã ra lệnh xử bắn theo "quân luật".

Cũng cần nói về ý đồ của Lê Quốc Túy giai đoạn này là sẽ tiếp tục đưa vào Việt Nam một toán quân (với tên gọi "Minh Vương 2") và khoảng 10 tấn vũ khí, đạn dược. Túy dự tính sẽ cho toán này di chuyển bằng đường biển, khi vào được Việt Nam sẽ xây dựng "mật cứ kháng chiến". Số "Kinh Kha" được đưa về lần này sẽ được cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm, y dược và tiền bạc để hoạt động lâu dài; chúng sẽ hình thành một biệt đội phá hoại thành phố và ám sát. Biệt đội này sẽ dùng những tài vật (cách dùng từ của Túy) mà Túy chuyển qua bằng đường dây bí mật để phá hoại. Tìm lại toán của Lê Hồng Dự (K34 - toán phó của toán "Minh Vương 1"), chiêu mộ đám tàn quân còn trốn trong rừng rồi phát triển thành từng toán nhỏ, mở rộng phạm vi hoạt động; bắt liên lạc với các "giới chức" trong nước để truyền đạt lại kế hoạch của Túy là sẽ tổ chức gây những tiếng nổ, những vụ phá hoại ở TP HCM, Tây Ninh để "gây tiếng vang" phục vụ cho việc đưa "Mặt trận” của chúng ra công khai... Khi ở nước ngoài Túy có bày tỏ ý định này cho Vẻn. Thế là Vẻn chợt nhớ tới Danh là người Cà Mau, rất am hiểu về biển và có thể lập kế hoạch xâm nhập. Vậy là Túy ra lệnh điều Danh từ "Mật cứ Tự Thắng" về trình diện.

Sáu Danh kể thêm, tâm trạng của bản thân ông lúc đó rằng, trong thời gian huấn luyện, ông bị hai tên Trần Ngọc Châu (K19) và Trần Ngọc Minh (K18) viết đơn tố giác với Hạnh - Túy ông là "trung úy Công an biên phòng". Danh được Bùi Văn Nam Sơn tiết lộ điều này và nói thêm, rất có khả năng Sáu Danh sẽ bị thủ tiêu. Đêm đó, tại "tổng hành dinh", tôi đứng ngồi không yên" - Ông nói.

Trầm ngâm một lát, Sáu Danh kể về cái đêm hôm đó: "Tôi nghĩ khả năng bị điều về đây để nhận án tử. Tôi đã nhậu với Sơn đến gần nửa đêm. Nhậu cho say để bớt đi sự lo lắng, căng thẳng. Tuy nhiên, càng uống thì tôi càng tỉnh. Tôi chợt nhớ đến dự tính xâm nhập bằng đường biển mà Túy - Hạnh đang đắn đo. Tôi nghĩ nếu sau khi trình bày đề xuất nên đổ quân về bờ biển Cà Mau, nếu Túy - Hạnh không tán thành thì cũng còn 3 - 4 giờ đồng hồ để bỏ trốn khỏi tổng hành dinh. Thế là tôi quyết định gõ cửa Hạnh - Túy vào lúc nửa đêm".

Sáu Danh được gọi vào. Tuy nhiên, người mà ông gặp không phải là Túy mà là Hạnh. Hạnh nói một số người không trung thành nên toán "Minh Vương 1" đã bị lộ... Sáu Danh đã cố giữ bình tĩnh và phân trần mình không là người của Công an mà thực chất vượt biên là muốn ra nước ngoài sinh sống. "Cái đó để rồi tính" - giọng Hạnh  lạnh lùng.

Là người khá nhạy cảm và đoán được tâm trạng của Hạnh - Túy lúc đó, Danh chủ động gợi ý với Hạnh nên tổ chức xâm nhập vào vùng Cà Mau. Sáu Danh cũng khéo lời rằng, để thực hiện cho tròn kế hoạch này, rất cần đến dân "thổ địa"; bởi nếu không có người rành đường đi nước bước, sẽ không thể làm được gì mà coi chừng lâm nguy. Sáu Danh cũng chẳng chần chừ đề xuất: "Trong khóa huấn luyện, ngoài tôi ra, còn có một vài anh em nữa cũng quê Cà Mau". Ý tưởng của Sáu Danh làm cho Hạnh và một số K trong Ban tham mưu của chúng tỉnh ngủ. Hớn hở nhất là Túy nhưng hắn không vội ra mặt. Sáu Danh kể: "Lúc đó, tôi cũng mừng thầm về khả năng mình sẽ thoát tội chết nhưng rồi tôi lại băn khoăn khi nghĩ đến tình huống: Túy - Hạnh sẽ vẫn dùng ý tưởng của tôi nhưng lại giao cho người khác triển khai. Và chúng vẫn giữ nguyên dự tính xử tử tôi".

Trong lúc Sáu Danh còn đang suy nghĩ về tình huống xấu nhất này thì Túy - Hạnh ra lệnh Sáu Danh giải trình thêm về ý tưởng do ông đưa ra. Nghe xong, chúng cũng nói lấp lửng, lộ ý tán thành: "Nếu làm theo dự tính này thì K64 phải trực tiếp đến mật cứ tuyển chọn người, phải lưu ý người biết đi biển mới được...".  

Ngay sau khi Sáu Danh rời phòng, Hạnh gọi Vẻn và một số K khác vào để bàn, góp ý thêm cho kế hoạch mà Sáu Danh gợi ý. Tất cả đều thống nhất giao cho Sáu Danh lập kế hoạch chi tiết hơn. Hoàng Hữu Thắng (K27) được giao viết thành văn bản. Sau khi Túy - Hạnh cho người góp ý thêm, khoảng 3 ngày sau đó, kế hoạch được thông qua. Theo phân tích của Sáu Danh, dù từng bị tố cáo nhưng sở dĩ ông được Túy dùng là nhờ nhiều lý do: đào ngũ khỏi chính quyền Cộng sản, cướp tàu, vượt biên, am hiểu tình hình trại tị nạn S.K, được Vẻn đảm bảo về hành vi chính trị và thái độ trung thành đối với "mặt trận", luôn làm đúng điều lệnh của "tổ chức".  Sáu Danh còn giống như là con cờ để giải vây cho Túy bởi trước đó, Túy đã lỡ huênh hoang tuyên bố về "lực lượng kháng chiến" ở trong nước với các cơ quan tình báo nước ngoài.

Lúc này, Túy cũng đã liên hệ và nhà cầm quyền ở địa phương nước ngoài cho phép sử dụng cảng R làm nơi xuất phát; còn vũ khí, được giấu trên một hòn đảo nhỏ.

Sáu Danh được phân công cùng Vẻn cầm tiền để đi mua tàu. Sáu Danh kể: "Lúc đầu, tôi mua được chiếc tàu đánh cá. Có điều, tàu này lại có hai tầng, loại này ở Việt Nam lúc đó rất ít thấy. Theo ý của tôi, chiếc tàu được hoán cải lại phần cabin chỉ còn 1 tầng. Túy - Hạnh đã trực tiếp xuống "nghiệm thu" và tỏ ra thích thú. Cũng theo đề xuất của tôi, biển hiệu của chiếc tàu được vẽ là Quốc doanh đánh cá Phú Khánh do tôi biết ở vùng biển Cà Mau, tàu của Phú Khánh vào rất nhiều". Xong chiếc tàu này, Danh được lệnh đi sắm chiếc tàu thứ hai và sửa sang lại. Chiếc tàu này được kẻ tên là "Phúc Đức".

(Xem tiếp ANTG số 991, thứ Tư ra ngày 8/9/2010)

* Một số chi tiết trong bài viết được trích từ Hồi ký của đồng chí Nguyễn Phước Tân

Thái Bình - Chuyên đề An ninh thế giới số 990

Các tin khác

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.