Giữa trập trùng tái xám của trùng trùng, lớp lớp đá tai mèo, của những thung sâu, vực thẳm nơi con gió quẩn quanh thổi ù ù năm này sang tháng khác, người Mông ở Mèo Vạc (Hà Giang) vẫn sống nhờ những cây ngô mọc còi cọc trong hốc đá, vẫn miệt mài xếp những hàng rào đá cao vút quanh nhà để bảo vệ gia súc, vẫn chắt chiu những ca nước mà phải đi bộ cả một ngày đường mới lấy được. Đến tận khi chết, họ vẫn nặng nợ với đá tai mèo khi nằm trong những ngôi mộ được xếp bằng những tảng đá rêu phong. Hà Giang là nơi mà người Mông thật thà, đôn hậu va chạm với thế giới văn minh. Cuộc va chạm có nhiều nụ cười và nước mắt.
Mèo Vạc là huyện có địa thế núi đá điển hình của Hà Giang, với hàng trăm thung lũng lớn nhỏ được bao bọc bởi những vách đá tai mèo dựng đứng. Cả ngày đi bộ đến hụt hơi, đến căng cứng bắp chân nhưng ngước mắt lên trời vẫn như rơi trong ma trận của đá với một màu xám xịt bất tận. Nơi đó, đồng bào Mông vẫn gìn giữ nhiều tập tục như cả trăm, cả ngàn năm trước. Có những tập tục tốt nhưng không ít tập tục xấu. Tảo hôn là một ví dụ.
Năm ngoái tòa án xét xử hai trường hợp học sinh tảo hôn khi mới 16 tuổi và 15 tuổi ở bản Há Dế (xã Khâu Vai). Việc xét xử này chủ yếu để tuyên truyền, răn đe là chính, bên nào sai (nhà gái hay nhà trai - NV) bên ấy bồi thường. Phiên xử diễn ra ngay chợ trung tâm, người xem đông lắm, chẳng kém chợ phiên là mấy. Ai cũng chỉ trỏ, cũng bàn luận nhưng rồi sau phiên tòa, tác dụng giáo dục cũng chỉ như một cơn mưa nhỏ trượt qua dãy núi tai mèo, chẳng còn đọng được mấy giọt. "Phép vua thua lệ làng", người Mông vẫn tiếp tục tảo hôn vì nhiều lý do.
Cái "lý" vững nhất nhiều bậc ông bà, bố mẹ người Mông dựa vào để bảo vệ cho nạn tảo hôn là phong tục duy trì từ ngàn đời nay như con suối bao năm qua vẫn chảy, như cây lim, cây nghiến ngàn đời vẫn ở trên đỉnh núi đá, không bao giờ chịu ở dưới thấp. Đời cụ kị, ông bà, bố mẹ tảo hôn, đến đời con, cháu cũng thế thôi, có gì lạ, mà cán bộ phải bắt ra đứng giữa một đống người để xét xử, cười chê? Không lấy được nhau, chúng ăn lá ngón, nhảy xuống vực sâu tự tử, ai đền con cho? Vậy nên người Mông vẫn tảo hôn mà Khâu Vai không phải là trường hợp đơn lẻ. Kỷ lục nhất về tảo hôn có lẽ thuộc Trường THCS Lũng Pù. Hôm tôi đến trường, không khỏi ngạc nhiên trước sự hoành tráng của nó. Vùng cao, nhà nước đầu tư nhiều, cơ sở vật chất phòng ốc rất đẹp mà nhiều trường dưới xuôi, kể cả thành phố có nằm mơ cũng không bao giờ có nhưng đời sống học sinh vẫn rất kham khổ.
Trường THCS Lũng Pù có 11 lớp, 339 học sinh thì 198 em mỗi tháng được hỗ trợ 140.000 đồng trong đó 20.000 đồng cho vật dụng cá nhân, còn lại là tiền ăn. Những học sinh này, nhiều em ở nội trú tại trường. Gia đình người Mông đa phần là nghèo, túng đói quanh năm chẳng có hỗ trợ gì thêm cho các em nên tất cả đều gói gọn trong ngần ấy tiền của Nhà nước chi cho. Trung bình mỗi bữa ăn của học sinh chỉ có 2.000đồng. Ở thành phố, chẳng ai hình dung nổi bữa ăn 2.000 đồng - bữa ăn chỉ ngang bằng nửa mớ rau muống.
Các em cũng có cơm nhưng không phải là gạo bình thường mà toàn loại "gạo học sinh" hay như ở xuôi người ta quen mồm gọi gạo rượu, gạo lợn vì nó cứng quào, không mùi, không vị, càng nhai càng bứ trong miệng, chỉ thích hợp để nấu rượu hay chăn nuôi. Nó cũng có thức ăn là rau nhưng chỉ có một vài nắm thái nhỏ ném vèo vào một chảo nước gọi là canh. Một tuần các em được một bữa cá mắm hay bữa thịt với 2 miếng thịt mỡ bé bằng đúng 2 đốt ngón tay. Bữa sáng không có, qua một đêm trường cầm cự với cái bụng hau háu sôi sùng sục, nhiều học sinh đói ngấu, tranh nhau dậy thật sớm để vét rồn rột nồi cơm cháy ăn thừa từ buổi hôm trước.
Ban quản lý khu nội trú của trường gồm 8 người ở, thực ra từ việc ăn đến ngủ của các em cũng phải đắn đo, phải tùng tiệm xoay xở, giật gấu vá vai mãi nhưng rồi bữa ăn của các em vẫn chỉ là những gì cơ cực nhất cứ lặp đi, lặp lại.
Chuyện ăn đã thế, chuyện vận động đi học ở vùng cao còn khó hơn nhiều. Thầy Ngô Anh Quốc, Hiệu trưởng Trường THCS Lũng Pù, bữa ấy đi cùng nhiều lực lượng trong đó có cả lãnh đạo xã đến vận động cha mẹ học sinh cho con em họ đi học ở bản Phấu Hía các anh đã bị một phụ huynh say rượu, cầm dao đòi... xin tí tiết.
Cũng ở bản này, khi vận động trường hợp bà họ Thò cho mấy đứa cháu đi học, bà ấy một mực bảo: "Chúng mày bắt cháu tao đi học thì tao nhảy xuống hố nước chết đấy". Người Mông đã nói là làm. Lời hứa buột khỏi miệng chắc như cái dao chém vào đá núi. Dân Mông sống ở trên núi cao, đa số không biết bơi, nhảy xuống hố nước chỉ có chết đuối. Nghĩ đến vậy, hoảng quá, cả đoàn vận động đành lục tục ra về. Sau tìm hiểu mới biết gia cảnh bà Thò khó khăn thực sự, thiếu lao động nên càng đói. Thế là nhà trường bèn gửi gạo cho bà nấu cháo. Nhà trường lại nhờ bà con làm nương giúp bà. Mưa dầm thấm lâu, bà Thò đã chấp nhận cho hai cháu Thò Thị Chí, Thò Thị Dính đi học. Hiện hai chị em Chí, Dính đều học ở lớp 7C.
Đau đầu nhất là nạn tảo hôn. Có em lớp 5 đã đùng đùng đòi lấy chồng và nhiều nhất là tảo hôn rơi vào lứa tuổi học sinh lớp 7, 8, 9. Cứ mỗi dịp lễ tết, số học sinh lại vơi đi một ít, đa số bảo ở nhà trồng ngô, lấy cỏ, xếp hàng rào đá nhưng thực chất chúng đã lấy vợ, lấy chồng rồi không đi học nữa. Kỷ lục có lẽ của cả ngành giáo dục Việt
Hôm tôi đến thăm lớp, thầy giáo chủ nhiệm Vũ Như Quyết bảo em nào có vợ, có chồng đứng lên cho nhà báo chụp ảnh. Ngại ngần. Xấu hổ. Đùn đẩy nhau. Rúc rích cười. Cuối cùng động viên mãi cũng có 4 em bẽn lẽn đứng dậy. Một em nam là Thò Mí Lía 13 tuổi, 3 em nữ Thò Thị Máy 17 tuổi, Sình Thị Dua 15 tuổi, Thò Thị Dợ 16 tuổi. Thò Mí Lía ngồi bàn đầu, thấp bé đến nỗi như học trò lớp 5, gầy guộc chắc chỉ hơn 20kg. Khi Lía đứng cũng không cao hơn cái bàn mấy tí, khi ngồi cái đầu em thấp hơn hẳn vai chúng bạn. Nói đến chuyện lấy vợ, Lía cười, thẹn đỏ mặt như học trò không thuộc bài. Đến tận lúc cưới, em mới biết mặt vợ. Tất tật việc tìm hiểu, dạm nhà, dạm ngõ, sính lễ đều do bố mẹ quyết định hết.
Hay như em Sùng Mí Cáy 17 tuổi, đã kịp có 2 con, thầy giáo động viên mãi nhưng xấu hổ không đi học nữa. Cũng như Cáy, Sình Mí Gấu ở bản Há Tỏ Sò có 2 con. "70% học sinh lớp này đọc được, số còn lại đọc rất yếu, tiếng Kinh cũng không vào, chủ yếu là vẽ chữ". Một thầy giáo nhận xét trong chua xót với tôi như vậy. Sau tết, tỉ lệ học sinh nội trú bị rơi vãi càng nhiều, chỉ còn được khoảng 60-70% em đến trường còn lại bỏ về làm nương, một số chuẩn bị cưới vợ, gả chồng cũng ở tịt nhà không chịu đi học.
Ở điểm Lũng Lừ B (xã Lũng Pù) do thầy Nguyễn Chí Thắng phụ trách có 13 học sinh, 7 nam, 6 nữ nhưng cũng đã có vài trường hợp tảo hôn, đó là em Sình Thị Dua học lớp 7A mới 14 tuổi và Hờ Thị Và 16 tuổi học lớp 9B. Mỗi khi có học sinh bỏ học, cả đoàn trường đi vận động nhưng nhiều khi cũng bất lực trước cái lý rất... vô lý, rất người... Mông rằng: "Học cũng no mọ po khừ (ăn ngô), không học cũng no mọ po khừ, thế thì không học đâu".
Đó là những trường hợp học sinh tảo hôn nên nhà trường biết được, có báo cáo lên trên, chứ còn trong dân nhiều người chẳng đăng ký kết hôn nên cũng không cơ quan nào thống kê xuể. Rất hay gặp là những trường hợp đã có 2, 3, 4 đứa con, vợ chồng mới bầu đoàn thê tử rồng rắn kéo đến Ủy ban, vừa hay đủ tuổi đăng ký. Nhiều trường hợp người Mông cưới vợ sớm không phải vì tình yêu bởi nhà trai đơn giản cần người làm những công việc như tra ngô, cắt cỏ bò, xếp hàng rào đá, lấy nước..., nhà gái thì con đã biết dệt áo, may quần là đủ tuổi ra khỏi nhà để lấy tiền thách mà lo cưới vợ cho đứa khác.
| Tôi học nói tiếng Mông, học xúc mèn mén bằng môi chan với nước lã cho dễ nuốt, học uống rượu ngô bằng bát, học cách xếp hàng rào đá, học xay ngô bằng cối đá quay tay, học cả cách leo núi vài tiếng đồng hồ với bí kíp ngậm chặt miệng vào chỉ thở bằng mũi, ít nói để giữ sức còn leo tiếp. Ở những vùng biên viễn như Mèo Vạc, Đồng Văn, không biết nói tiếng Mông không khác gì lạc vào một nước mà không biết ngoại ngữ, trên 90% dân ở đây không nói được tiếng Kinh và mù chữ. |