Chuyến công du ngoại giao bí mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị sang thăm Liên Xô, Trung Quốc nhằm phát triển quan hệ ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, giúp ta đẩy nhanh cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Đây là chuyến đi bí mật nên việc tiễn đưa không tổ chức công khai.

Trước khi đi, Bác gặp riêng một số đồng chí dặn dò và giao nhiệm vụ cụ thể trong lúc Người đi công tác xa. Thời gian này, Bác hay yếu mệt nên đồng chí Trần Đăng Ninh (Ủy viên Trung ương, phụ trách hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam, sau là Tổng cục trưởng Tổng cục Cung cấp, Bộ Quốc phòng) đề nghị với bên quân nhu nghiên cứu một loại cáng đặc biệt để người khiêng cáng cần nghỉ cũng không phải đặt cáng xuống đất.

Biết chuyện, Bác hỏi đồng chí Ninh: "Nghe nói các chú đang làm cho tôi cái kiệu?", rồi Người quyết định ngay: "Tôi mệt thì các chú cũng mệt. Nếu lại phải cáng tôi thì còn mệt biết mấy? Chú chuẩn bị cho tôi một chiếc balô. Đồ dùng của ai người nấy mang. Tất cả đều hành quân như bộ đội".

Trước ngày lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp viết bản báo cáo về tình hình quân sự để Người mang theo. Ngày 29/12/1949. Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến đã trao 50 đồng tiền vàng trong số 200 đồng tiền vàng đầu tiên do Sở Đúc tiền của nước ta đúc, để Người làm quà tặng trong chuyến đi công tác. Ngày 1/1, theo chỉ thị của Bác, đồng chí Lâm Cẩm Như và hai cán bộ Lê Phát (cảnh vệ kiêm phiên dịch) cùng Ngô Vi Thiên (điện đài viên) lên đường trước để tiền trạm.

Ngày 2/1, phái đoàn tập trung tại châu Tự do và buổi chiều cùng ngày bắt đầu lên đường, bảo vệ tiếp cận Người có đồng chí Nhất. Bác mặc bộ quần áo chàm, đầu đội chiếc mũ rộng vành, trùm chiếc khăn mặt trắng che bộ râu đã có những sợi điểm bạc, sau lưng là một chiếc balô.

Chuyến đi hết sức vất vả, nguy hiểm vì quân Pháp, Tưởng và các lực lượng ô hợp đóng dày đặc hai bên đường biên. Từ Tuyên Quang, phái đoàn đi bộ, dắt ngựa vượt qua rừng, ngày 16 đến Phục Hòa (Cao Bằng) qua chợ Thủy Khẩu (Trung Quốc) mới gặp bộ phận tiền trạm của đồng chí Lâm Cẩm Như.

Đến Long Châu thuộc Quân khu Quảng Tây thì Quân Giải phóng Trung Quốc phái một trung đội vũ trang đến nghênh đón và hộ tống Người về nghỉ tại Bộ Tư lệnh phân khu. Sáng sớm ngày 17/1, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên ôtô của Quân Giải phóng Trung Quốc đi Nam Ninh. Ngày 20-/,  Bác đến Nam Ninh và nghỉ tại khách sạn Kim Sơn ở đường Dân Sinh.

Tại cơ quan giao tế Nam Ninh, Bác dự tiệc chiêu đãi do các tướng lĩnh cấp cao của Quân khu Hoa Nam và Chủ tịch tỉnh Quảng Tây tổ chức. Trong buổi tiệc, Người cũng gặp lại bạn cũ là tướng Trần Canh, hai người đã cùng nhau chụp ảnh kỷ niệm và Bác viết tặng ông một bài thơ chữ Hán rồi tạm dịch sang tiếng Việt cho mọi người cùng hiểu:

Khi xưa gặp chú một thanh niên
Nay chú cầm quân giữ soái quyền
Trăm vạn hùng binh theo lệnh chú
Giữ gìn cách mạng cõi Điền biên.

Ngày 21/1, Bác rời Nam Ninh đi ôtô đến Lai Tân và lên Bắc Kinh bằng tàu hỏa. Lúc đó Chủ tịch Mao Trạch Đông đã đi Mátxcơva để đàm phán và ký hiệp định hợp tác với Liên Xô nên các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước như Thủ tướng Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Nhiếp Vinh Trăn đã nồng nhiệt tiếp đón Người. Về danh nghĩa, đây là phái đoàn của Trung ương Đảng ta sang thăm Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dự buổi chiêu đãi trong một chuyến đi công tác tại Quảng Tây, trung quốc (20/1/1950) (Ảnh: tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh).
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự buổi chiêu đãi trong một chuyến đi công tác tại Quảng Tây, trung quốc (20/1/1950) (Ảnh: tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh).

Trong các cuộc hội đàm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo về đường lối cách mạng Việt Nam, về tình hình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của Ban lãnh đạo Trung Quốc. Phía Trung Quốc cho rằng trước đây chưa có điều kiện giúp đỡ cách mạng Việt Nam ; từ nay, sẽ hết sức chi viện cho kháng chiến của ta.

Ngày 25/1, Người nhận được điện cảm ơn của Thống chế Xtalin về bức điện Người chúc mừng Xtalin tròn 70 tuổi. Theo đề nghị của ta, Trung Quốc đã điện báo cho Nguyên soái Xtalin về sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh và ngỏ ý muốn sang Liên Xô để trực tiếp thông báo về tình hình cách mạng Việt Nam. Đồng chí Xtalin mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm không chính thức Liên Xô.

Ngày 3/2/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Thủ tướng Chu Ân Lai đáp tàu hỏa đi Mátxcơva. Đồng chí Trần Đăng Ninh đi theo Người.

Tới Mátxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc với các đồng chí trong Ban lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc như Xtalin, Môlôtốp, Kazanôvích, Khơrútsốp, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai...

Khi được thông báo về tình hình Việt Nam , Xtalin đã đồng ý với đường lối chiến lược, sách lược của Đảng ta. Song cũng ngỏ ý muốn Việt Nam phải nhanh chóng làm cách mạng ruộng đất. Về quân sự, Xtalin khuyên Việt Nam nên chú trọng toàn bộ vùng rừng núi phía tây, nắm được vùng đó, sẽ nắm được quyền làm chủ đất nước, đồng thời thỏa thuận với Trung Quốc một số giải pháp nhằm hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 16/2/1950, tức là 30 tết Kỷ Sửu cổ truyền của cả Trung Quốc và Việt Nam, Nguyên soái Xtalin tổ chức đại tiệc tại Điện Kremlin để mừng Hiệp ước Hữu nghị Xô - Trung và cũng là mừng năm mới, cùng dự bữa tiệc còn có các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc khác như Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tịch Mao Trạch Đông.

Trước đây, Liên Xô không hiểu rõ nội tình cách mạng Việt Nam nhưng sau khi nghe Bác trình bày tình hình, Xtalin đã đồng ý với đường lối chiến lược, sách lược của Đảng ta. Giữa không khí vui vẻ của bữa tiệc, Bác nói với Xtalin: "Thưa đồng chí Xtalin, tôi xin được thỉnh thị đồng chí?", Xtalin cười đáp: "Sao đồng chí lại thỉnh thị tôi? Đồng chí là Chủ tịch Việt Nam , tôi là Chủ tịch Liên Xô, chúng ta ngang nhau nên phải trao đổi mới đúng!".

Bác nửa đùa, nửa thật nói tiếp: "Đồng chí đã ký với đồng chí Mao Trạch Đông Hiệp ước Xô - Trung, vậy nhân dịp này đồng chí và tôi cùng ký nhận một bản Hiệp ước Xô - Việt được chứ?". Xtalin cười nói: "Nhưng đồng chí Hồ ơi, đồng chí sang thăm chúng tôi chuyến này là bí mật vì vậy tôi và đồng chí chưa thể ký hiệp ước được. Nếu ký hiệp ước, người ta hỏi đồng chí đột ngột ở đâu hiện ra thì chúng tôi biết giải thích thế nào?". Bác cười: "Chuyện đó dễ lắm. Đồng chí cho chúng tôi lên máy bay bay một vòng rồi đáp xuống sân bay, cử một số đồng chí ra đón chúng tôi, cho các báo đưa tin này thế là xong!". Xtalin cả cười: "Quả là sức tưởng tượng độc đáo của người phương Đông các đồng chí! Tuy nhiên chúng ta có thể ký với nhau một bản khẩu ước ngay tại đây, trước sự chứng kiến của quan khách và bạn bè rằng…", Bác tiếp ngay lời Xtalin: "Việt Nam nỗ lực bằng mọi giá phải đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi. Xtalin và Liên Xô bằng mọi khả năng của mình sẽ ủng hộ Việt Nam chiến thắng thực dân Pháp".

Mọi người đều vỗ tay và hô to “hura” (hoan hô), Xtalin nói tiếp: "Yêu cầu của Việt Nam không lớn. Nên có sự phân công giữa Trung Quốc và Liên Xô. Liên Xô hiện đang phải lo nhiều cho các nước Đông Âu. Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam những thứ đang cần. Những thứ gì Trung Quốc chưa có, thì hãy lấy trong số hàng Liên Xô đã viện trợ cho Trung Quốc chuyển sang Việt Nam, và sẽ được Liên Xô hoàn trả", Xtalin còn nói vui: "Trung Quốc không thiệt vì trao cho Việt Nam những thứ đã dùng rồi, sẽ nhận lại ở Liên Xô những thứ mới. Trong quan hệ quốc tế phải có đi có lại. Liên Xô viện trợ cho Trung Quốc một xe tăng, Trung Quốc trả lại một con gà, một khẩu pháo, trả một quả trứng. Việt Nam trả Trung Quốc thế nào thì tùy...". Mao Chủ tịch quyết định: "Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam ".

Liên Xô cho ta một trung đoàn pháo cao xạ 37ly, một số xe vận tải Môlôtôva và thuốc quân y; Trung Quốc sẽ trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh và một đơn vị pháo binh, và vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô cho ta, đồng thời sẽ cử cố vấn quân sự sang giúp ta và đồng ý cho ta đưa người của Trường Lục quân sang đất Vân Nam để đào tạo và bổ túc cán bộ.

Sau bữa tiệc, Xtalin còn ký vào chân dung của mình in trong một cuốn họa báo để tặng Bác làm kỷ niệm, nhưng khi sửa soạn hành lý chuẩn bị về nước thì Bác không tìm thấy cuốn họa báo đó (mãi đến đầu năm 2009 mới sưu tầm lại được, thì ra để giữ bí mật tuyệt đối cuộc gặp gỡ này, Cơ quan Tình báo KGB đã nhanh tay thu cuốn họa báo đó, cất vào kho lưu trữ).

Trong thời gian ở Liên Xô, Bác cũng gặp gỡ đại diện Đảng Cộng sản Pháp và nhiều tổ chức quốc tế để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ngày 17/2, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đáp xe lửa liên vận rời Liên Xô và ngày

4/3 về đến Bắc Kinh, Người bắt đầu hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai.

Bác đề nghị Trung Quốc cử cố vấn sang giúp Việt Nam vì ta chuẩn bị đánh lớn. Phía bạn đưa ra danh sách gồm 4 người: La Quý Ba, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc làm Trưởng đoàn cố vấn; Vi Quốc Thanh làm Trưởng đoàn cố vấn về quân sự; Mai Gia Sinh làm cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu làm cố vấn về công tác hậu cần. Tối ngày 11/3/1950, Người lên tàu hỏa về nước. Trước khi rời Bắc Kinh, Bác viết bài thơ chữ Hán “Ly Bắc Kinh”:

Trời Ký Bắc treo vầng trăng rọi
Lòng theo trăng vời vợi sáng ngời
Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
Nửa theo bạn cũ, nửa soi lữ hành.

Ngày 12/3, khi qua tỉnh Hồ Bắc nhìn thấy đồng lúa xanh tốt, Bác làm bài thơ chữ Hán “Quá Hồ Bắc”:

Đồng ruộng khi đi đầy tuyết trắng
Nay về lúa mạch đã xanh xanh
Ngày mai cày máy thay cày gỗ
Ức triệu nhà nông hưởng thái bình.

Ngày 13/3, khi qua Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam , Bác làm bài thơ chữ Hán “Sớm 13, qua Trường Sa”:        

Trường Sa ngày trước chốn sa trường
Mỗi dãy lâu đài một vết thương
Trung Quốc ngày nay đã giải phóng
Trường Sa sẽ hết cảnh tang thương.

Ngày 17/3, buổi trưa đi qua Thiên Giang, Bác làm bài thơ chữ Hán “Ngọ quá Thiên Giang”:     

Đến Thiên Giang kể chuyện Thiên Giang
Xuân tới bờ sông bát ngát sương
Xe thù ngàn cỗ thành tro xám
Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan.

Ngày 19/3, về tới gần Long Châu, thuộc tỉnh Quảng Tây, Bác đã làm bài thơ chữ Hán “Cận Long Châu”:      

Còn cách Long Châu ba chục dặm
Nghe tàu bay rú, pháo gầm rung
Nhân dân nước Việt anh hùng thật
Diệt thù, dựng nước ắt thành công.

Hạ tuần tháng 3/1950, Người tới biên giới Trung - Việt. Ngày 31/3, Bác đến nghỉ ở nhà đồng chí Đinh Hữu Thới ở bản Đông Chót, xã Bằng Đức, huyện Ngân Sơn rồi hôm sau Bác về cơ quan Tỉnh đội Bắc Kạn. Ngày 2/4/1950, Người về đến Bắc Kạn. Sau khi gặp gỡ và làm việc với Ban lãnh đạo tỉnh, Người về An toàn khu bằng xe tải. Tới Quán Vuông (đường Bắc Kạn - Thái Nguyên), đoàn gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí trong cơ quan Bộ Tổng tư lệnh ra đón.

Nghỉ lại đây một hôm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể vắn tắt chuyến đi công tác tại Trung Quốc, Liên Xô của Người. Hôm sau, Người về sớm để chuẩn bị cho phiên họp Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 6/4/1950, tại phiên họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức thông báo tình hình và kết quả chuyến đi của Người.

Chuyến đi bí mật đầy gian lao, nguy hiểm, song cũng hết sức mưu lược, tài trí của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc tốt đẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Liên Xô, Trung Quốc hiểu rõ hơn thực chất của Cách mạng Việt Nam và sự uyển chuyển của đường lối chiến lược và sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong tiến trình Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần làm bạn bè quốc tế nhận thức rõ hơn về Cách mạng Việt Nam. Nhờ đó đã dấy lên một phong trào ủng hộ Cách mạng Việt Nam ngày càng lan rộng về cả tinh thần và vật chất đối với cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chuyến đi của Người thể hiện đường lối đối ngoại trước sau như một của Đảng ta, phản ánh xu thế phát triển tất yếu của Cách mạng Việt Nam . Bằng lộ trình Việt Bắc - Bắc Kinh - Mátxcơva và tài ngoại giao xuất chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết lập được mối quan hệ tay ba Việt - Xô - Trung, một mối quan hệ chiến lược có ảnh hưởng to lớn và thường xuyên đến Cách mạng Việt Nam trong nhiều thập niên sau đó

Đỗ Hoàng Linh - ANTG số Tết 2010

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.