Dự thảo báo cáo giải trình dự án Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi trình phiên họp thứ 31 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng nay gần như đã thống nhất về vấn đề lãi suất. Theo đó, sẽ không tồn tại loại lãi suất cơ bản gây bó buộc lãi suất kinh doanh của các ngân hàng thương mại như thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước chỉ công bố các loại lãi suất có vai trò định hướng và giúp thực thi chính sách tiền tệ. Trong trường hợp thị trường diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước sẽ quy định lãi suất cụ thể cho các tổ chức tín dụng thực hiện. Để chống tình trạng cho vay nặng lãi trên thị trường tự do, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố lãi suất riêng làm cơ sở áp dụng cho các giao dịch dân sự nằm ngoài hoạt động ngân hàng.
Ủy ban Thường vụ cũng nhận định rằng trong điều kiện bình thường, Ngân hàng Nhà nước không cần thiết phải chỉ đạo trực tiếp lãi suất của các tổ chức tín dụng, lãi suất của các tổ chức tín dụng sẽ được quyết định trên cơ sở quan hệ cung cầu về vốn. Ủy ban cũng đồng tình rằng không nên áp dụng thống nhất một loại lãi suất áp dụng cho cả hoạt động ngân hàng và các giao dịch dân sự khác. Vì giữa hoạt động ngân hàng và giao dịch dân sự khác có những khác biệt căn bản, một bên là hoạt động chính thức, hợp pháp, quy mô lớn, được kiểm soát chặt chẽ và công khai trong khi hoạt động cho vay trong khu vực dân cư nhỏ lẻ, không chính thức, không công khai, khó có sự giám sát chặt chẽ thường xuyên. Do đó, cần công bố trần lãi suất riêng cho hoạt động vay mượn tự phát trong dân cư, vừa để ngăn ngừa cho vay nặng lãi, vừa là căn cứ để các cơ quan chức năng giải quyết khi xảy ra tranh chấp.
Vấn đề tưởng chừng đã ngã ngũ ở đây, lãi suất cơ bản mà đặc biệt là cơ chế trần lãi suất áp dụng với các ngân hàng thương mại tưởng như sẽ được dỡ bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng nếu đã bỏ lãi suất cơ bản thì nên bỏ hẳn, nếu chỉ quy định mức trần với các giao dịch dân sự ngoài ngân hàng sẽ tạo sự bất bình đẳng vì hoạt động cho vay của các ngân hàng cũng là giao dịch dân sự. "Quy định thế này thì người ta có thể lập luận rằng chẳng lẽ các ngân hàng được cho vay nặng lãi còn bên ngoài thì không", ông Hiển đặt vấn đề một cách khéo léo, song người trong cuộc dễ hiểu rằng ông không đồng tình bỏ lãi suất cơ bản.
Quan điểm của ông Hiển được hai đại biểu khác ủng hộ. Bà Lê Thị Thu Ba, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội vẫn kiên quyết cho rằng nếu bỏ lãi suất cơ bản thị trường sẽ rối loạn, người nắm tiền trong tay có quyền ấn định lãi suất cao và gây khó dễ người đi vay. Nếu người đi vay chấp nhận lãi suất cao, theo bà Thu Ba, sẽ mang lại nguy cơ rủi ro rất lớn với hệ thống, bởi có thể họ vay mà không quan tâm tới khả năng chi trả. "Cũng như hồ nước, khi chúng ta xây dựng phải có cái van an toàn. Nước tràn đến mực đó nó phải có chỗ thoát, nếu không thoát được, nó sẽ làm ngập cả một vùng. Không phải vô cớ mà Bộ Luật Dân sự đề cập tới lãi suất cơ bản", bà Thu Ba nói thêm.
Trước các ý kiến do dự của ba vị đại biểu, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên chốt lại hoạt động cho vay của ngân hàng hay sự vay mượn lẫn nhau trong dân cư đều là giao dịch dân sự, vì vậy không nên quy định một loại lãi suất riêng cho các giao dịch vay mượn phát sinh ngoài ngân hàng. Hơn nữa đây là giao dịch ngầm, không kiểm soát được.
Liên quan tới lãi suất cơ bản, ông Kiên cho rằng đây không phải là một loại lãi suất mà cần được hiểu là một cụm các loại lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Theo ông, trong điều hành chính sách tiền tệ, không thể bỏ lãi suất cơ bản.
Kết luận của vị Phó chủ tịch Quốc hội đã đưa những tranh luận về lãi suất cơ bản nhiều năm qua quay trở lại vạch xuất phát. Dự kiến Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi sẽ trình để Quốc hội thông qua ngay kỳ họp thứ 7. Từ nay đến khi Quốc hội khai mạc vào cuối tháng này, Ngân hàng Nhà nước và các ủy ban có liên quan của Quốc hội sẽ phải bàn thảo thêm để đưa ra phương án cuối cùng cho vấn đề lãi suất cơ bản, cũng như nhiều vấn đề tranh cãi khác trong dự luật.
| Khái niệm lãi suất cơ bản lần đầu tiên được nhắc tới khi Luật Ngân hàng Nhà nước được ban hành và đi vào thực thi năm 1998. Tuy nhiên, cho tới năm 2006, lãi suất cơ bản chỉ là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ, nó chỉ có tính định hướng đối với hoạt động cho vay và huy động của các ngân hàng thương mại. Từ 1/7/2006, Bộ Luật Dân sự mới có hiệu lực, trong đó ràng buộc lãi suất trong các hợp đồng vay tài sản, kể cả hợp đồng tín dụng ngân hàng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Sự ràng buộc này càng chặt chẽ hơn khi chính Ngân hàng Nhà nước đưa ra cơ chế lãi suất trần vào tháng 5/2008, khi thị trường tiền tệ đứng trước nguy cơ khủng hoảng. Theo đó, lãi suất cho vay và huy động của ngân hàng thương mại không được vượt 150% lãi suất cơ bản, thay vì được tự do thỏa thuận. Tuy nhiên, cơ chế lãi suất trần dần bộc lộ khiếm khuyết vì các ngân hàng vẫn tìm cách lách thông qua việc thu phí cho vay. Ngành ngân hàng cũng cho rằng việc khống chế lãi suất trần khiến thị trường tiền tệ méo mó, không phản ánh rõ cung cầu. Từ cuối 2008, Ngân hàng Nhà nước đã đề nghị bỏ lãi suất cơ bản. Gần đây, lãi suất cơ bản không còn nhiều ý nghĩa trong hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng thương mại đã được áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với hầu hết các hợp đồng vay vốn, từ ngắn hạn cho tới trung dài hạn, và cả vay tiêu dùng. |