Câu chuyện thật của "Người tình báo thầm lặng"

Cuốn sách "Người tình báo thầm lặng" đã hé lộ nhiều chiến công bí mật của lực lượng tình báo trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và chân dung cuộc đời của nhà tình báo Tống Văn Trinh.

"Người tình báo thầm lặng" là tiêu đề quyển truyện ký viết về cuộc đời nhà tình báo Tống Văn Trinh có mã danh N113 (nhà xuất bản Văn Nghệ) do công ty Fahasa phát hành. Tác giả quyển sách là Thạc sỹ toán học Tống Quang Anh - con trai của nhà tình báo Tống Văn Trinh. Quyển sách đã hé lộ nhiều chiến công bí mật của lực lượng tình báo trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và chân dung cuộc đời của nhà tình báo Tống Văn Trinh.

Vỏ bọc hoàn hảo

Năm 1954, một cán bộ quân báo ở Cần Thơ tên là Tống Văn Trinh được tập kết ra Bắc và phiên vào biên chế Sư đoàn 330 làm cán bộ trợ lý Ban Quân lực.

Một ngày đầu năm 1957,  ông nhận được lệnh điều động về Cục Tình báo, thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau một khóa huấn luyện đặc biệt và bí mật, Tống Văn Trinh được Cục Tình báo đưa sang Lào bằng đường hợp pháp trong vỏ bọc một doanh nhân Việt kiều Thái Lan vào đầu năm 1959.

Với cái tên mới là Nguyễn Văn Độ, mật danh N113, ông bắt liên lạc và cư trú tại nhà một thầu khoán tên Bùi ở đường Nong Bone gần That Phoune.  Ông Bùi là thầu khoán của hãng xây dựng Calavy, Lào. 

Tác giả Tống Quang Anh, con trai nhà tình báo Tống Văn Trinh tại buổi giới thiệu sách "Nhà tình báo thầm lặng".
Tác giả Tống Quang Anh, con trai nhà tình báo Tống Văn Trinh tại buổi giới thiệu sách "Nhà tình báo thầm lặng".

Trước đó có một người tên Nguyễn Văn Đan ở Sài Gòn qua làm thư ký cho Hãng Calavy. Do không chịu đựng cảnh xa nhà, ông ta đã về nước. Khi về, ông ta bỏ lại giấy phép cư trú. Ông Bùi dùng mối quan hệ thân thiết của mình nhờ một người làm việc trong ngành cảnh sát thay ảnh ông "Độ" vào bộ hồ sơ cư trú của ông Đan.

Sau 2 lần lột xác, Tống Văn Trinh trở thành Nguyễn Văn Đan, thư ký cho Hãng Calavy, Lào. Sau đó "Nguyễn Văn Đan" được ông Bùi giới thiệu vào làm thư ký cho cơ quan Đăng kiểm xe (Bureau Contrôle d'Auto) thuộc Sở Công chánh Vientiane - Ngạch công chức chính thức của Vương quốc Lào.

Sau một thời gian ngắn, "Nguyễn Văn Đan" chiếm được cảm tình tất cả đồng nghiệp. Năm 1960, "Trung tâm" thu xếp đưa vợ con ông "Đan" từ Việt Nam qua sống chung.

Suốt 5 năm đầu, "Nguyễn Văn Đan" chỉ làm mỗi nhiệm vụ là tạo thiện cảm, xây dựng các mối quan hệ thân tình với các gia đình có con em làm việc trong Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại Lào và chính quyền VNCH.

Năm 1964, Cục Tình báo gởi sang một điệp viên phụ trách điện đài tên T.. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn, vì ông "Đan" không chỉ lo giấy phép cư trú, mà còn phải tạo nghề nghiệp bình phong cho người phụ trách điện đài và đặc biệt là nơi đặt điện đài, bảo đảm hoạt động an toàn. Để tạo thế hợp pháp cho người phụ trách điện đài, ông "Đan" vận động bà con Việt kiều góp tiền xây dựng một ngôi trường tư thục mang tên La Fontaine dạy chương trình phổ thông Lào nhưng có kèm thêm tiếng Việt. Điệp viên T. sang với vỏ bọc là thầy giáo dạy tiếng Lào.

Nhà tình báo Tống Văn Trinh.
Nhà tình báo Tống Văn Trinh.

Năm 1970, ông "Đan" tiếp tục "lót ổ" cho điệp viên Q vào vỏ bọc tổng giám thị của trường La Fontaine. Năm 1963, nhận thấy Công ty cổ phần Hàng không nội địa Vương quốc Lào - Societé Véha Akat (SVA) có nhiều cổ phần của các quan chức lớn và nơi đó có nhiều thông tin về chính trị quân sự bởi vì ông Oun Sanani Kone - Cố vấn Quốc phòng của chính phủ Lào - là chủ tịch Hội đồng quản trị của SVA.

Ông "Đan" tìm cách xin vào làm kế toán trưởng của VSA. Chỉ sau một thời gian ngắn, ông "Đan" được Chủ tịch Hội đồng quản trị Oun Sanani Kone đặc biệt ưu ái, xem như người nhà.

Chính mối quan hệ thân thiện với Chủ tịch Hội đồng quản trị Oun Sanani Kone đã tạo điều kiện cho ông Đan nắm bắt được những thông tin tối mật chính phủ Lào, kể cả tình hình chính trị của Việt Nam Cộng hòa.

Thời gian này, mọi tình hình của chính quyền Lào thân Mỹ và VNCH tại Lào đều được báo cáo đầy đủ về "Trung tâm".

Đầu năm 1971, ông "Đan" nhận thấy có điều gì đó bất thường khi một phái đoàn quân sự cao cấp của Mỹ và VNCH bất ngờ xuất hiện tại Lào. Qua dòng họ nhà Sanani Kone, ông phát hiện Mỹ và VNCH thỏa thuận với chính quyền Lào thân Mỹ thực hiện một kế hoạch quân sự lớn tại khu vực Hạ Lào. Ngay lập tức, ông và cộng sự báo cáo ngay về "Trung tâm".

Cùng thời điểm đó, một cán bộ tình báo của ta đang trú ẩn trong bộ máy cao cấp của chính quyền VNCH cũng báo cáo về Hà Nội: "Mỹ và VNCH sắp thực hiện một chiến dịch quân sự lớn tại Hạ Lào nhằm cắt đứt đường Trường Sơn". "Trung tâm" chỉ thị cho ông "Đan" tìm cách thu thập thông tin chi tiết về kế hoạch này tại Lào.

Chiến dịch Lam Sơn 719

Năm 1971, chuẩn bị thực hiện "Chiến dịch Lam Sơn 719", Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã đưa một đoàn sĩ quan quân sự sang tại Vientian. Trong số đó có  viên trung tá tên B. Biết ông "Đan" là người thân tín của nhà Sanani Kone, Trung tá B nhờ ông "Đan" tạo điều kiện để kết thân.

Tại bữa tiệc chiêu đãi kết thân giữa viên Trung tá B và Sanani Kone, ông "Đan" vờ say rượu để có cớ vào phòng làm việc của trung tá B ngủ. Trong khi trung tá B còn mê mải cụng ly với vị lãnh đạo quốc phòng Lào, ông "Đan" đàng hoàng dùng máy ảnh chuyên biệt chụp lại trọn bộ 2 bản kế hoạch "Chiến dịch Dewey Canyon II" của Mỹ và "Chiến dịch Lam Sơn 719" của VNCH.

Bìa sách "Nhà tình báo thầm lặng".
Bìa sách "Nhà tình báo thầm lặng".

Ngày hôm sau, toàn bộ chi tiết 2 kế hoạch quân sự "khủng" đó nằm gọn trên bàn làm việc của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương của ta. Căn cứ vào kế hoạch của địch, các vị lãnh đạo Bộ Quốc phòng soạn thảo kế hoạch đón lõng phản công mang tên "Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào". Ông Lê Trọng Tấn - Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được giao làm Tư lệnh và ông Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy chiến dịch.

Khi địch bắt đầu di binh thực hiện chiến dịch, quân ta cũng bắt đầu động binh khởi động kế hoạch đón lõng vào ngày 30-1-1971.

Nhất cử nhất động của địch, quân ta đều nắm trong lòng bàn tay. Các sư đoàn 308, 304, 324, Sư đoàn 2 và lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5, 559 cùng một số lực lượng của Quân Giải phóng nhân dân Lào (Gồm 4 trung đoàn pháo, 3 trung đoàn cao xạ phòng không, 3 trung đoàn công binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp), liên quân Lào - Việt kề vai sát cánh đã làm chủ hoàn toàn chiến trường. Hầu như mọi cánh quân của địch đều lọt vào mạng lưới giăng sẵn của quân ta.

Trận giao chiến vùng Hạ Lào này được tờ Paris Match (Pháp) viết: "Mục tiêu của cuộc hành quân này là tạo lập một hành lang dài 24 km dọc theo Đường 9 đến Sê Pôn, sâu vào đất Lào 35 km đến tận con đường nhánh có ý nghĩa chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh. Giai đoạn 3 của chiến dịch phải là một cuộc hành quân càn quét dài ngày nhưng do bị thiệt hại nặng, tướng Lãm (quân đội VNCH) phải ra lệnh rút quân sớm kể từ ngày 10-3-1971.

Quân đội VNCH chỉ có thể rút quân bằng không lực Mỹ, đường bộ đã bị Bắc Việt chặn toàn bộ. Toàn bộ chiến dịch bị kết thúc sớm vào ngày 24-3-1971. Thiệt hại của quân đội VNCH ước tính lên đến 10.000 người, gần một nửa số quân tham chiến ở Lào. Mỹ chỉ làm nhiệm vụ hỗ trợ nhưng cũng thiệt hại 107 chiếc trực thăng và 176 phi hành đoàn". Hơn 1.000 quân, trong đó có đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Nhảy dù VNCH - đầu hàng và bị quân ta bắt sống.

Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của quân dân hai nước Việt - Lào đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn.

Chiến dịch Kou Keo

Ngày 25-5-1972, với sự hậu thuẫn của quân đội Mỹ, lực lượng quân đội Lào thân Mỹ bất ngờ đổ quân xuống Cánh đồng Chum thực hiện một kế hoạch quân sự mang tên "Chiến dịch hành quân Kou Keo". Đó là phần mở đầu của chiến dịch mang tên "phục thù" của lực lượng liên quân Mỹ - Lào - Thái.

Ông Tống văn Trinh và vợ (đứng giữa) trong thời gian hoạt động ở Lào.
Ông Tống văn Trinh và vợ (đứng giữa) trong thời gian hoạt động ở Lào.

Trưa hôm đó, vừa từ hãng hàng không về đến nhà, ông "Đan" nhận được tin mật từ quê nhà gửi sang yêu cầu báo cáo thông tin về kế hoạch quân sự của địch ở Cánh đồng Chum. "Trung tâm" yêu cầu phải báo cáo trước 24 giờ đêm. Có nghĩa là ông "Đan" chỉ có 12 giờ để thực hiện một nhiệm vụ gần như bất khả thi.

Ông đành dùng tư cách "người nhà" của dòng họ nhà Sanani Kone đi tìm gặp ngay viên sĩ quan tham mưu ở Bộ Quốc phòng. Đó là cách thu thập thông tin rất nguy hiểm, dễ lộ vỏ bọc điệp viên nhưng ông không còn cách nào khác.

Ông bày một cuộc nhậu rồi khéo léo hỏi thăm tình hình chiến sự. Vô tình, viên sĩ quan này phun hết mọi kế hoạch của chiến dịch hành quân Kou Keo. Từ cuộc nhậu với viên sĩ quan cao cấp, ông "Đan" ghi nhận: "Lực lượng quân đội Lào thân Mỹ được huy động gồm Trung đoàn Cơ động số 5 ở Chinaimo, một binh đoàn của quân Hạ Lào - Savannakhét, 2 tiểu đoàn lính Mèo ở Sảm Thông, Long Chẹng của tướng phỉ Vàng Pao.

Mục tiêu cuộc hành quân không nhằm chiếm đóng mà tập trung đánh phá cơ sở hậu cần và làm tiêu hao dẫn đến tiêu diệt lực lượng Pathét Lào. Theo kế hoạch, sau 3 ngày càn quét và oanh kích bằng không quân, liên quân Lào thân Mỹ sẽ rút quân theo hai con đường, Phone Hông và bản Ban Paksane. Chiến dịch Kou Keo chỉ là đòn đánh nhử quân cách mạng Pathét.

Ngay đêm đó, "Trung tâm" nhận được bản báo cáo của ông Đan. Từ báo cáo của ông, quân cách mạng Pathet Lào không rơi vào cái bẫy "Giương đông kích tây" của địch.

Thực tế cho thấy, vào ngày 21-5-1972, quân Mỹ tập trung không quân đánh phá ác liệt các điểm cao trọng yếu và trục đường giao thông để mở đường cho bộ binh tấn công bằng 3 mũi vào các điểm cao ở Thẩm Lửng ngày 25-5-1972. Đoán được kế hoạch của địch, quân Pathét Lào đón lõng và đánh tan 6 tiểu đoàn  (có 2 tiểu đoàn Thái Lan) ở Hin Đăm, Thẩm Lửng, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch ở Mường Sủi, đồng thời dùng đặc công, pháo binh tập kích địch ở Long Chẹng.

Đúng như báo cáo, vào ngày 11-8-1972, địch chuyển hướng tấn công toàn lực vào Cánh đồng Chum từ hướng khác:  4 tiểu đoàn Thái Lan tiến vào đường bộ theo 3 hướng đông nam, tây và đông bắc. Mặt khác 2 tiểu đoàn Thái Lan đổ bộ đường không xuống Phu Keng đánh hướng tây bắc. Quân Pathét Lào tập trung lực lượng đã phục kích sẵn ở Phu Luông, Phu Huasang, Phu Thông, đồi 5 mỏm, điểm cao 1294, bản Lao, Phu Học chờ địch chui vào rọ để phản đột kích. Kết quả, địch bị diệt và bị bắt sống hơn 700 tên. Quân Pathét Lào giữ được trận địa.

Nhờ nguồn tin tình báo của ông "Đan", quân Pathét Lào đã giáng cho liên quân Mỹ - Lào ngụy một trận đòn choáng váng".

Luật sư danh dự

Sau ngày đất nước thống nhất 30-4-1975, đang là kế toán trưởng hãng hàng không có thu nhập của giới thượng lưu, ông chấp nhận bỏ tất cả để được về quê mẹ.  Được "Trung tâm" chấp nhận cho hồi hương, ông Tống Văn Trinh về Việt Nam, xin chuyển ngành về tỉnh Cửu Long (giờ là Vĩnh Long) làm Viện phó Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh.

Năm 1977, do nhu cầu nhân sự, ông Tống Văn Trinh được điều chuyển sang tỉnh Hậu Giang giữ chức Trưởng ban Pháp chế. Sau khi Ban Pháp chế chuyển thành Sở Tư pháp, ông được cử làm Giám đốc. Ông là người có công xây dựng và củng cố bộ máy tư pháp toàn tỉnh Cần Thơ (hiện giờ là TP Cần Thơ), trong đó có việc thành lập các phòng công chứng.

Bộ Tư pháp dựa vào thành tích đóng góp, đặc cách công nhận ông là luật sư và là thành viên của Hội Luật gia Việt Nam. Dù ông chưa từng tốt nghiệp Đại học Luật.

Đến cuối năm 1986, cơn tai biến mạch máu não lần hai đã quật ông ngã gục nhưng  nhờ được cứu chữa kịp thời ông đã qua khỏi. Ông xin nghỉ hưu.

Ngày 19-8-2008, đúng vào ngày kỷ niệm 63 năm tham gia cách mạng, ông về cõi vĩnh hằng ở tuổi 86.

Nông Huyền Sơn

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.