Ngược từ Hạ Long, vượt qua gần 150 cây số, chúng tôi về xã Quảng Minh, huyện Hải Hà để thu thập thông tin theo phản ánh của người dân về những chuyện bức xúc mà bấy lâu nay kiến nghị nhiều lần lên các cấp chính quyền địa phương nhưng chưa được giải quyết.
Một chị trung tuổi (xin được giấu tên) cho biết, người dân xã Quảng Minh ngoài đồng ruộng nông nhàn, bà con chỉ biết đi biển đào sái sùng để có thêm thu nhập, có tiền lo cho con cái học hành. Thế nhưng hiện nay, hầu hết phần vùng bãi triều có tiềm năng đều bị các chủ chòi nuôi ngao, nghêu khoanh vùng lấn chiếm. Người dân đi biển, vốn dựa vào nguồn lợi của biển để sinh sống thì nay lại bị họ bóc lột bằng cách để lại cho chủ chòi một nửa, hoặc bán với giá rất rẻ những sản phẩm bà con thu hoạch được.
Một người khác khẳng định, việc khuyến khích các hộ nuôi trồng thủy sản đầu tư, khoanh vùng bãi triều để nuôi trồng là một chủ trương đúng nhằm phát huy hiệu quả diện tích bãi triều. Điển hình như hộ anh Lưu Văn Quẩn và Dương Xuân Cai ở thôn 1. Chỉ với khoảng 20ha bãi triều, hai hộ này đã giải quyết được hàng chục lao động và cho doanh thu tương đối lớn.
Tuy nhiên trên thực tế, số hộ nuôi trồng thực sự thì ít mà chủ yếu là trường hợp đứng lên nhận phần rồi cho thuê lại kiếm lời. Nhiều trường hợp khoanh vùng nhưng không nuôi trồng mà chủ yếu để "kinh doanh" sức lao động của người đi biển. Sự việc khiến người dân rất bức xúc. Đơn thư gửi đi khắp nơi nhưng tới nay vẫn chưa nhận được sự hồi âm nào của cơ quan có thẩm quyền…
Nhiều người khác còn nhận định thêm, mọi việc xuất phát từ sự quản lý yếu kém của cơ quan quản lý. Sự việc rõ như ban ngày và đã được nhân dân phát giác, nhưng cơ quan chức năng vẫn chưa giải quyết triệt để.
Xã Quảng Minh có tổng thể khoảng 1.500ha diện tích đất bãi triều chạy dài từ thôn 4 đến thôn Minh Tân. Theo quy hoạch, vùng bãi triều này được quy hoạch thành 2 vùng rõ rệt. Một vùng dành cho nuôi trồng và một vùng dành cho khai thác tự nhiên. Tuy nhiên thời gian qua, các hộ nuôi trồng giáp ranh với vùng khai thác tự nhiên đã tự ý lấn chiếm thêm gấp nhiều lần diện tích được giao và cũng có những trường hợp tự ra cắm chòi nhận phần.
Theo số liệu thống kê của UBND xã Quảng Minh, hiện có 153 trường hợp đang sử dụng đất bãi triều để nuôi trồng thủy sản với diện tích khoảng 370ha. Trong đó có 57 trường hợp với diện tích 181ha được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép nuôi trồng thủy sản; số hộ không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép lên tới 96 trường hợp với diện tích chiếm dụng khoảng 190ha.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 6, Điều 28 Luật Thủy sản; Điều 12, 13 Nghị định 27/2005/NĐ-CP, cơ quan Nhà nước cấp huyện chỉ được phép giao cho mỗi trường hợp nuôi trồng thủy sản không quá 1ha diện tích bãi triều để nuôi trồng. Tuy nhiên, huyện Hải Hà lại cố tình phớt lờ quy định, tự ý giao cho trên 50 trường hợp với diện tích bãi triều là 2ha. Nhiều trường hợp hiện tại đã hết thời hạn giao đất tới 5 năm. Cũng có trường hợp được cấp 2ha nhưng khoanh vùng tới 10ha.
Ông Vũ Đình Loan, Chủ tịch UBND xã Quảng Minh thừa nhận, việc lấn chiếm bãi triều trên địa bàn xã diễn ra từ nhiều năm nay là có thật. Và những kiến nghị của người dân là hoàn toàn đúng. Nhiều trường hợp đã không nuôi trồng hoặc chỉ nuôi một phần nhỏ diện tích nhưng đã khoanh vùng rộng để chia sẻ lợi nhuận với người dân đi biển khi họ vào khu vực này khai thác.
Tuy nhiên ông Loan cho rằng, vì đây là sự việc tồn tại từ trước, bản thân ông vừa nhận công tác chưa đầy một năm nên giải quyết sự việc không thể một sớm một chiều được mà cần có thời gian. Ông Loan lý giải, việc khoanh vùng của các chủ chòi mặc dù trái với quy định nhưng cũng là cách bảo vệ nguồn lợi thủy sản khỏi các hành vi đào bới tuyệt chủng hoặc dùng các loại kích điện, thuốc nổ của một số người dân thiếu ý thức. Ông cho rằng, nếu cũng diện tích bãi triều ấy để khai thác tự nhiên, chắc chắn sẽ sớm cạn kiệt.
Qua điện thoại, ông Kim Văn Chiến, Phó Chủ tịch UBND huyện cũng cho biết, hiện huyện đã cử đoàn công tác liên ngành cùng phối hợp với xã Quảng Minh thống kê và rà soát lại toàn bộ diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã Quảng Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng và có các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý hơn