Trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở những vấn đề trọng tâm để Trung ương tập trung thảo luận, xem xét và quyết định, trong đó có vấn đề đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược và năng lực đất nước đang thiếu. Cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng năng suất và sức tự chủ? Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài.
Chiều 8/10/2026, phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định, Trung ương đã quyết định đổi mới công tác cán bộ và chính sách thu hút, sử dụng nhân tài, chuẩn bị đội ngũ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 26, Trung ương thông qua Nghị quyết mới về cán bộ và công tác cán bộ; đồng thời thông qua Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”.
Nghị quyết xác định 3 đột phá: đánh giá, lựa chọn, sử dụng và sàng lọc cán bộ; tạo nguồn, phát triển đội ngũ và trọng dụng nhân tài; hoàn thiện thể chế và phương thức quản trị cán bộ.
Liên quan Đề án này, tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIV (diễn ra từ ngày 5 đến 8/10/2026), Trung ương thống nhất xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, có vai trò quan trọng trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp của đất nước. Mục tiêu đặt ra là xây dựng hệ thống quản trị nhân tài quốc gia hiện đại, thống nhất, hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế, hình thành đội ngũ nhân tài chất lượng cao đủ khả năng giải quyết những bài toán lớn và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Đây là định hướng quan trọng nhằm cụ thể hóa yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, trước những chủ trương về đổi mới công tác cán bộ, thu hút và trọng dụng nhân tài, việc xuất hiện các ý kiến băn khoăn, quan ngại, những tranh luận về tính khả thi, cơ chế thực hiện, tiêu chí tuyển chọn và chính sách đãi ngộ là điều cần được nhìn nhận khách quan. Bên cạnh những ý kiến phản biện có cơ sở, khi xuất hiện thông tin sai lệch, suy diễn hoặc quy kết thiếu căn cứ về mục tiêu và nội dung chính sách, những thông tin đó cần được kiểm chứng, phân tích và làm rõ trên cơ sở văn bản chính thức. Không thể lấy những hạn chế trong thực tiễn, những vụ việc tiêu cực để mặc nhiên phủ nhận toàn bộ chủ trương; đồng thời cũng không thể lấy mục tiêu đúng đắn làm lý do né tránh những vấn đề cần khắc phục trong quá trình thực hiện.
Một số quan điểm cho rằng, chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài chỉ mang tính hình thức, được nêu ra nhiều nhưng khó đi vào thực tiễn. Lập luận này thường xuất phát từ những băn khoăn về tình trạng sử dụng nhân lực chưa phù hợp, cơ chế tuyển dụng còn bất cập hoặc người có năng lực chưa được tạo điều kiện phát huy sở trường. Tuy nhiên, từ những hạn chế cụ thể để đi đến kết luận rằng toàn bộ chủ trương không có giá trị thực tiễn là cách đánh giá chưa toàn diện.
Cần phân biệt rõ mục tiêu chính sách, chất lượng thiết kế cơ chế và hiệu quả tổ chức thực hiện. Một chính sách chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được cụ thể hóa thành quy định rõ ràng, có nguồn lực bảo đảm, có cơ chế giám sát và được đánh giá bằng kết quả thực chất. Vì vậy, thay vì phủ nhận chủ trương, điều cần thiết là xác định đúng những điểm nghẽn, làm rõ trách nhiệm và đề xuất giải pháp khắc phục.
Cũng có ý kiến cho rằng, việc dành cơ chế đặc thù cho nhân tài sẽ tạo ra đặc quyền, đặc lợi, làm mất công bằng trong tuyển dụng và sử dụng nhân lực. Đây là vấn đề cần được xem xét trên cơ sở phân biệt giữa đãi ngộ tương xứng với năng lực, đóng góp và việc trao lợi ích thiếu căn cứ. Trọng dụng nhân tài không đồng nghĩa với việc trao quyền hoặc ưu đãi vô điều kiện cho một nhóm người.
Ngược lại, chính sách này chỉ có thể đạt hiệu quả khi đi đôi với tiêu chí tuyển chọn khách quan, quy trình công khai, đánh giá bằng kết quả công việc và trách nhiệm giải trình. Người có bằng cấp cao, học hàm, học vị hoặc thành tích nổi bật cần được xem xét trên cơ sở năng lực thực tế và yêu cầu nhiệm vụ chứ không thể mặc nhiên được coi là phù hợp với mọi vị trí. Một cơ chế trọng dụng nhân tài đúng nghĩa phải bảo đảm vừa khuyến khích người có năng lực cống hiến, vừa ngăn ngừa lợi dụng chính sách để trục lợi cá nhân.
Một số ý kiến khác cho rằng, Việt Nam chỉ cần tập trung đào tạo nhân lực trong nước, không cần chú trọng thu hút chuyên gia từ nước ngoài hoặc ngược lại cho rằng, muốn phát triển nhanh thì phải dựa chủ yếu vào nhân lực được đào tạo ở nước ngoài. Cả hai cách tiếp cận nếu tuyệt đối hóa một nguồn lực đều chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu phát triển. Thực tiễn cho thấy, xây dựng đội ngũ nhân tài cần kết hợp nhiều giải pháp: phát hiện và bồi dưỡng người có năng lực trong nước; tạo điều kiện để chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp; đồng thời tiếp thu tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến của thế giới. Điều quan trọng không phải là nhân tài được đào tạo ở đâu, mà là năng lực của họ có phù hợp với nhiệm vụ, có tạo ra giá trị thực chất và có được phát huy trong một môi trường làm việc thích hợp hay không.
Đáng chú ý, việc thu hút người tài không thể chỉ dừng lại ở chính sách tiền lương, tiền thưởng hoặc những lời kêu gọi cống hiến. Người có năng lực cần được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, được giao nhiệm vụ phù hợp, có cơ hội tiếp cận nguồn lực, được bảo đảm điều kiện nghiên cứu và sáng tạo, đồng thời được đánh giá công bằng theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Nếu cơ chế quản lý còn nặng tính hành chính, thủ tục phức tạp, đánh giá thành tích hình thức hoặc chưa bảo vệ đầy đủ những người dám đổi mới vì lợi ích chung thì khả năng thu hút và giữ chân nhân tài sẽ bị hạn chế. Bởi vậy, trọng dụng nhân tài phải gắn liền với đổi mới thể chế, cải thiện môi trường làm việc, nâng cao chất lượng quản trị và xây dựng văn hóa tôn trọng tri thức, khuyến khích sáng tạo.
Một vấn đề khác cần được nhìn nhận thẳng thắn là mối quan hệ giữa chính sách trọng dụng nhân tài và công tác cán bộ. Không thể đồng nhất người có chuyên môn giỏi với người đương nhiên phù hợp để đảm nhiệm vị trí lãnh đạo, quản lý; cũng không thể xem việc bổ nhiệm vào chức vụ cao là thước đo duy nhất của sự trọng dụng. Trong nhiều lĩnh vực, nhân tài có thể phát huy giá trị lớn nhất thông qua nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, giảng dạy, khám chữa bệnh, đổi mới sản xuất hoặc giải quyết những vấn đề chuyên môn phức tạp. Vì vậy, cần xây dựng các cơ chế sử dụng nhân lực linh hoạt, phù hợp với đặc thù ngành nghề, coi trọng sản phẩm và hiệu quả công việc, tạo điều kiện để người có năng lực đóng góp mà không bị giới hạn bởi tư duy coi chức vụ là con đường duy nhất để khẳng định giá trị.
Từ thực tiễn đó, việc đánh giá chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, có thể kiểm chứng. Các cơ quan có thẩm quyền cần công khai tiêu chuẩn tuyển chọn, quy trình đánh giá, chế độ đãi ngộ, trách nhiệm của người được tuyển dụng và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Cần có cơ chế kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa tình trạng tuyển chọn dựa trên quan hệ cá nhân, thiên vị hoặc lợi ích nhóm, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng chính sách. Đối với những trường hợp người có năng lực chưa được sử dụng đúng mức, cần làm rõ nguyên nhân từ cơ chế, tổ chức thực hiện hay điều kiện khách quan để có biện pháp khắc phục phù hợp. Đây là cách tiếp cận vừa bảo đảm tính nghiêm túc trong thực hiện chủ trương, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.
Đường lối phát triển đất nước được xác định tại Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những định hướng này gắn với yêu cầu giải phóng các nguồn lực, nâng cao năng suất lao động, xây dựng nền kinh tế có năng lực cạnh tranh và tăng cường sức mạnh tự chủ của quốc gia.
Trên không gian mạng, các thông tin liên quan đến chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài cần được tiếp nhận với tinh thần tỉnh táo, khách quan. Khi gặp những nhận định cho rằng chính sách chỉ nhằm phục vụ lợi ích của một nhóm người hoặc khẳng định việc triển khai chắc chắn không đem lại kết quả, người đọc cần kiểm tra nguồn tin, đối chiếu nội dung văn bản và xem xét các bằng chứng được đưa ra. Những cáo buộc cụ thể phải được xác minh trên cơ sở tài liệu và sự kiện; không nên mặc nhiên coi mọi ý kiến trái chiều là sai trái, cũng không nên tiếp nhận các kết luận chưa có căn cứ như sự thật đã được chứng minh. Phản biện có trách nhiệm phải dựa trên dữ liệu, lập luận rõ ràng và tinh thần xây dựng; phản bác thông tin sai lệch cũng phải tuân thủ chính những yêu cầu đó. Với những luận điệu vin cớ những tồn tại, những vụ việc tiêu cực trong công tác cán bộ để quy kết, chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ chế độ thì cần phải đấu tranh, loại trừ.
Cùng với đó, cần chú trọng giải quyết những nguyên nhân thực tế làm phát sinh sự hoài nghi, bi quan. Khi cơ chế tuyển chọn minh bạch hơn, người có năng lực được đánh giá công bằng hơn, chế độ đãi ngộ gắn với đóng góp rõ ràng hơn và những hạn chế trong thực hiện được kịp thời khắc phục, niềm tin vào chính sách sẽ được củng cố bằng kết quả thực tế. Công tác tuyên truyền, giải thích vì vậy cần gắn với đối thoại, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình; không chỉ khẳng định mục tiêu mà còn làm rõ cách thức triển khai, kết quả đạt được và những vấn đề đang tiếp tục được giải quyết.
Đối với các cơ quan, đơn vị, việc thực hiện chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài phải bắt đầu từ đổi mới nhận thức và phương pháp quản lý. Người đứng đầu cần quan tâm phát hiện người có năng lực, giao nhiệm vụ đúng sở trường, tạo điều kiện để cán bộ, chuyên gia phát huy sáng kiến và đánh giá công việc trên cơ sở kết quả cụ thể. Các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần tăng cường liên kết, tạo môi trường để tri thức được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế - xã hội. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và người lao động, cần chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát huy tinh thần trách nhiệm và đóng góp bằng kết quả công việc thực chất.
Nhìn tổng thể, thu hút và trọng dụng nhân tài không phải là nhiệm vụ có thể hoàn thành chỉ bằng một văn bản hoặc một đợt tuyển dụng mà là quá trình lâu dài đòi hỏi sự phối hợp giữa thể chế, nguồn lực, môi trường làm việc và chất lượng tổ chức thực hiện. Việc nhận diện, phản bác những thông tin sai lệch về chủ trương này cần gắn với yêu cầu tôn trọng sự thật, bảo đảm tính khách quan và chủ động hoàn thiện chính sách, khắc phục những tồn tại, hạn chế. Những ý kiến góp ý có căn cứ cần được tiếp thu; những hạn chế trong thực tế cần được rà soát và xử lý; những nhận định suy diễn, thiếu bằng chứng cần được làm rõ bằng thông tin chính xác và lập luận khoa học.