“Có 2 điều cần phân biệt rõ ràng. Một là quan hệ hợp đồng của các nhà đầu tư với EVN (trong trường hợp này, EVN phân công cho Tổng Công ty Điện lực miền Bắc và Công ty Điện lực Lào Cai ký các thỏa thuận). Hợp đồng thỏa thuận thế nào, phần lưới truyền tải ai phải chịu trách nhiệm? Thứ 2 là lưới truyền tải chung ở ngoài như các đường dây 110 kV, đường dây 220 kV, các trạm biến áp để tiêu thụ điện thì điện lực phải lo tất, chứ các nhà đầu tư không lo cái đó. Sự nhập nhèm ở đây là người ta không hiểu trách nhiệm mỗi bên ở mức độ nào. Phải làm sáng tỏ điều này. Làm được thì bài toán giải rất dễ” – một chuyên gia trong ngành điện đề xuất.
Vị chuyên gia này cho rằng không thể lấy lý do thiếu vốn mà để một lượng điện quý như vậy không phát được lên lưới quốc gia để tiêu dùng, để rồi lại phải đi mua điện Trung Quốc.
“Không thể ngồi nói chung chung với nhau, mà cần làm rõ còn bao nhiêu kilômét đường dây nữa cần đầu tư, nằm trên địa hình nào, cần bao nhiêu vốn. Cần phải có một tổ chức nào đó đứng ra làm một cuộc điều tra, với sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn, đại diện ngành Điện, các chủ đầu tư, kể cả chuyên gia trung gian. Nếu làm rõ trách nhiệm rồi vẫn vướng mắc thì kiến nghị lên Nhà nước để xử lý. Chỉ có cách đó mới giải quyết được” – vị chuyên gia này kết luận.
Xung quanh vấn đề này, chúng tôi cũng đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Đàm Xuân Hiệp, Tổng thư ký Hiệp hội Điện lực, Hiệu trưởng Trường ĐH Điện lực. PGS.TS Đàm Xuân Hiệp: Đây là một sự lãng phí do quy hoạch nguồn và quy hoạch lưới không khớp nhau. Theo những gì tôi biết thì việc quan tâm đến thủy điện nhỏ ở mức Quy hoạch Quốc gia còn rất khiêm tốn, chưa có quy hoạch chi tiết mang tính hệ thống. Các tổng sơ đồ có đề cập đến, nhưng do cơ cấu nguồn thủy điện nhỏ trong tổng cân bằng công suất chiếm tỷ trọng rất nhỏ nên Nhà nước hầu như không đầu tư mà để cho tư nhân. Bởi vậy, tỉnh nào có nguồn sinh ra điện thì cứ cấp phép, khi cấp có thể chưa phối hợp với ngành Điện nên mới dẫn đến tình trạng như vậy. Nó cũng giống như là xây dựng khu đô thị nhưng không xây dựng đường vào làm cho giao thông đến khu đô thị đó luôn trong tình trạng tắc nghẽn. Việc này đã tạo ra một thực tế rất phản cảm là điện thừa mà vẫn đi mua.
- Ông nhận định thế nào về cách xử lý của ngành Điện trong trường hợp này?
- Ông Đàm Xuân Hiệp: Phải thừa nhận rằng các nguồn thủy điện nhỏ rất phân tán. Xét về mặt kinh tế, thu gom các nhà máy lắt nhắt như thế thì gần như không có hiệu quả. Trong khi việc thực hiện đường dây ấy là trách nhiệm của ai lại không rõ ràng. Doanh nghiệp hành xử theo kinh tế thị trường, khi không phải trách nhiệm của họ, thì họ phải ưu tiên cho những gì có lợi trước. Đầu tư cho lưới điện giống như đầu tư đường giao thông, không bao giờ thu được hiệu quả ngay, nếu thu được thì rất là dài, chỉ mong hoàn vốn là tốt rồi. Chưa kể, ngay tại thời điểm này, tìm vốn cho phát triển lưới là cực kỳ khó khăn.
- Nếu không được phát điện, các nhà đầu tư sẽ vô cùng khó khăn bởi không có nguồn thu, trong khi đã đổ hàng chục nghìn tỷ vào đầu tư. Theo ông có lối thoát nào cho họ?
- Ông Đàm Xuân Hiệp: Nếu họ tuân thủ quy trình, ký hợp đồng đấu nối và hợp đồng mua bán điện trước khi khởi công nhà máy, thì căn cứ vào đó mà làm. Ai không tuân thủ hợp đồng có thể mang ra trọng tài kinh tế để phân xử. Nhưng nếu làm sai quy trình, giở lý ra thì họ thua hoàn toàn. Dù vậy, lãng phí tiền của ai cũng là lãng phí của xã hội, giờ đổ lỗi cho nhau rất khó. Tất cả nên ngồi lại với nhau để tìm cách xử lý.
- Lãnh đạo Tổng Công ty Điện lực miền Bắc cho biết có thể xem xét việc mở rộng phạm vi các tỉnh miền Bắc sử dụng điện Trung Quốc như một phương án giải tỏa công suất. Ông có đồng ý với phương án này không?
- Ông Đàm Xuân Hiệp: Đây cũng là một phương án, nhưng tôi cho rằng không được, bởi gia tăng sự phụ thuộc của chúng ta. Nếu có vấn đề hay sự cố gì đó, cả miền Bắc mất điện, sẽ rất khó xử lý. Việc mua điện của Trung Quốc tôi cho rằng không bền vững. Giờ mà tăng mức sử dụng thì còn rủi ro hơn nhiều. Tôi được biết hiện chúng ta đã ký hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc đến 2015. Để ổn định nguồn điện, như vậy cũng được, nhưng bài toán thủy điện nhỏ vẫn phải tính. Giờ phải tìm cách gỡ để tận dụng nguồn đầu tư sẵn có ấy. Tiền ở đâu ra, ai sẽ đầu tư đường dây để giúp các nhà máy phát được điện trong giai đoạn sau? Nếu ngành Điện quá khó khăn, chủ đầu tư các nhà máy có thể bỏ ra một phần vốn đầu tư đường dây, rồi sau đó tính vào giá điện hoặc hoàn lại sau. Phải cùng nhau gỡ. Nếu tất cả dựa vào Nhà nước, dựa vào ngành Điện, đổ loanh quanh rồi chẳng có cách giải quyết, nhất là hiện ngành Điện nợ nần rất nhiều, tìm nguồn vốn đầu tư rất khó. Đây là bài toán lợi ích nhiều bên, mỗi bên phải chịu thiệt một chút để đạt được đồng thuận. Cần phải có trọng tài có tiếng nói để kéo các bên ngồi lại với nhau.
- Không chỉ ở khu vực Lào Cai, mà Quảng
- Ông Đàm Xuân Hiệp: Đúng là có nhiều bất cập trong việc phát triển thủy điện nhỏ. Trước đây chúng ta cứ nghĩ rằng có tiềm năng thủy điện thì cứ xã hội hóa, để tư nhân đầu tư để tận dụng nguồn, vì đằng nào chúng ta cũng thiếu điện. Nhưng rồi ra mới phát hiện đầu tư lưới để gom thủy điện nhỏ vào còn “quá tội”. Thủy điện nhỏ hầu như ở nơi hẻo lánh, địa hình phức tạp, công suất từng nhà máy rất thấp. Đấy là chưa kể đến việc họ không có hồ chứa hoặc hồ chứa nhỏ, vào mùa mưa họ phát được nhiều điện thì chúng ta cũng thừa, không cần dùng đến. Vào mùa thiếu điện thì họ lại không phát được chút nào. Chưa kể nó tác động đến môi trường khủng khiếp. Vì vậy với những dự án nào đã thực hiện và cấp phép rồi thì phải tìm cách giải quyết, không thể để lãng phí.
- Xin cảm ơn ông!
| Nhà máy thủy điện nhỏ kiến nghị xem xét lại giá điện để tính thuế tài nguyên 5 nhà đầu tư thủy điện nhỏ tại Lào Cai vừa có văn bản kiến nghị gửi Bộ Tài chính và Bộ Công thương, đề nghị xem xét lại giá điện để tính thuế tài nguyên. Đó là chủ đầu tư của các nhà máy Nậm Khóa 3 (công suất 18 MW), cụm nhà máy thủy điện Ngòi Xan (gồm 6 nhà máy với tổng công suất 53,7 MW), thủy điện Mường Hum (32 MW) và thủy điện Bản Xèo (2,4 MW), thủy điện Tà Lạt và thủy điện Nậm Tha 6. Các chủ đầu tư này đã có văn bản kiến nghị Bộ Tài chính xem xét lại mức giá tính thuế cho phù hợp, đúng với giá điện thực tế mà họ bán được, nhằm giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp. |