Vấn đề phát triển KHXH&NV trong kỷ nguyên mới vô cùng quan trọng, tuy nhiên KHXH&NV chưa được đề cập tới một cách sâu sắc, đầy đủ và cụ thể trong Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng như các nghị quyết khác của Đảng. Ngày 25/5, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo để cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản.
Tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có những thông điệp chỉ đạo chiến lược như phải xác định đúng vị trí, vai trò của khoa học cơ bản trong mô hình phát triển mới của đất nước, trong đó có lĩnh vực KHXH&NV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, cần làm rõ sự khác nhau giữa khoa học tự nhiên, công nghệ nền tảng với KHXH&NV để có cơ chế tài chính, cơ chế đánh giá và cơ chế sử dụng kết quả phù hợp.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, KHXH&NV tạo ra tri thức nền tảng, luận cứ chính sách, mô hình quản trị, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, năng lực dự báo và sức mạnh mềm quốc gia. Có thể nói, tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nâng tầm KHXH&NV, đặt KHXH&NV trong mối quan hệ chiến lược ngang tầm với khoa học tự nhiên và công nghệ. Điều đó cũng cho thấy Đảng, Nhà nước đang dành sự quan tâm đặc biệt tới KHXH&NV.
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đưa ra một số ý kiến tư vấn, khuyến nghị để KHXH&NV phát triển, thực sự phát huy vai trò là khoa học cơ bản, có tính chất nền tảng.
Trước tiên, cần nhận thức chính xác, đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của KHXH&NV.
KHXH&NV là điểm tựa của đường lối, chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nền tảng để phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là cơ sở trực tiếp của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trực tiếp liên quan đến vận mệnh của đất nước, chủ quyền quốc gia, đến lợi ích dân tộc cơ bản, đến an ninh quốc gia, an ninh văn hóa, an ninh con người và quảng bá thương hiệu uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Đó cũng là cơ sở khoa học và thực tiễn để Đảng, Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân Việt Nam tiến hành các cuộc đối thoại ý thức hệ, đối thoại chiến lược, đối thoại thể chế, đối thoại liên văn hóa với các đối tác quốc tế, doanh nghiệp và bạn bè, nhân dân các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển sức mạnh mềm Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để đảm bảo hội nhập mà không bị hòa tan, hội nhập để tỏa sáng.
Hai là, do các lĩnh vực khoa học, công nghệ ngày nay ngày càng tích hợp sâu và nhuần nhuyễn với nhau, cho nên KHXH&NV cũng là một nền tảng, một cơ sở để khoa học tự nhiên và công nghệ phát triển bền vững, đồng thời đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng là cơ hội để KHXH&NV lột xác, phát triển tới một tầm cao mới, phù hợp với xu hướng chung của KHXH&NV thế giới. Vì thế, không thể tách rời các lĩnh vực khoa học, công nghệ, trái lại phải có chính sách, giải pháp trong nghiên cứu và đào tạo để thúc đẩy quá trình tích hợp các lĩnh vực khoa học này ở Việt Nam. Phát triển công nghệ cao, như AI chẳng hạn thì luôn luôn phải đặt vấn đề tính nhân văn, nhân bản, chủ quyền quốc gia và bản sắc dân tộc ở đâu, cần được bảo vệ và phát huy thế nào. Trong khi đó, KHXH&NV phải thoát khỏi tình trạng cảm tính, định tính suông mà phải thực chứng, phải dựa trên những công cụ và phương pháp kiểm chứng được thì mới trở thành luận cứ, thành “đầu vào” của quá trình chính sách được.
Ba là, cần xác lập nguyên tắc tôn trọng quyền tự do học thuật và mở rộng không ngừng không gian sáng tạo học thuật để giới trí thức - khoa học đóng góp được nhiều hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các vấn đề chuyên môn nên được giải quyết thông qua tranh luận khoa học; các vấn đề khác có tính chất hình sự, như lan truyền thông tin giả, gian lận khoa học, vi phạm liêm chính…, cần được xử lý theo các quy định của pháp luật. Quan trọng nhất là các nhà khoa học phải không ngừng nâng cao năng lực đối thoại học thuật ở tầm cao toàn cầu, phải xứng đáng là “đại sứ trí tuệ và văn hóa” của đất nước, phải là người vừa chuẩn bị hành trang vừa dẫn dắt dân tộc Việt Nam hội nhập và tỏa sáng trong thế giới toàn cầu hóa.
Thứ tư là tạo ra và tăng cường “lực kéo”, kết hợp “lực kéo” với “lực đẩy” để tạo xung lực cho KHXH&NV Việt Nam phát triển bền vững, hiệu quả. Hầu hết các giải pháp chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó có việc tháo gỡ khó khăn cho KHXH&NV Việt Nam, cho đến nay mới chủ yếu chỉ tập trung vào việc khai thông các “lực đẩy” (diriving forces), tức là giải quyết các vấn đề nội tại, như đổi mới lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, tăng cường đầu tư, tăng cường năng lực, đảm bảo tự do học thuật, tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, ưu tiên chỗ này, hỗ trợ chỗ kia... Tất cả những giải pháp đó, trong những năm qua, cho thấy ít mang lại hiệu quả. Nguyên nhân do KHXH&NV Việt Nam còn thiếu “lực kéo” (pulling forces). Phải có sự cộng hưởng của hai loại lực này thì KHXH&NV mới có xung lực, có động lực mạnh để tiến lên phía trước được.
Theo tôi, “lực kéo” cho toàn bộ sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó có KHXH&NV, đều nằm ở thị trường khoa học và công nghệ, nằm ở sự phát triển bền vững của đất nước.
Gặp và làm việc với đại diện các nhà khoa học tham dự Hội thảo ngày 26/10/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng khẳng định: “Các công trình của quý vị không chỉ giúp thế giới hiểu chúng tôi đúng hơn, mà cũng giúp chính chúng tôi soi lại mình một cách thẳng thắn hơn. Trong quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn lắng nghe các ý kiến phản biện khoa học độc lập, nghiêm túc, thiện chí. Những nghiên cứu có giá trị, giàu hàm lượng thực tiễn, tầm nhìn dài hạn đều là nguồn tham khảo quý báu cho chúng tôi trong xây dựng chiến lược phát triển đất nước”.
Quá trình hoạch định và thực thi chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước chính là nơi tiếp nhận kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học, đặc biệt là các ngành KHXH&NV, khoa học liên ngành. Đây chính là “phân khúc thị trường” quan trọng nhất tạo nên “lực kéo” cho các ngành KHXH&NV, khoa học liên ngành phát triển. Đảng và Nhà nước cần đứng ra “đặt hàng” các cá nhân và các tổ chức KHXH&NV cung cấp cơ sở, luận cứ khoa học và thực tiễn cho toàn bộ quá trình lãnh đạo, quản trị và điều hành ở Việt Nam. Việc đặt hàng theo cơ chế hợp đồng minh bạch, chặt chẽ thì sẽ có chất lượng “input” tốt nhất, đảm bảo hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động lãnh đạo, quản trị và điều hành đất nước.
Về hệ thống chính quyền địa phương hai cấp, theo tôi là “phân khúc quan trọng” thứ hai của KHXH&NV Việt Nam. Muốn tối ưu hóa các cơ hội phát triển và các nguồn lực, muốn mở rộng không gian phát triển và cải thiện năng lực quản trị địa phương thì không thể không dựa trên những thông tin và giải pháp do KHXH&NV và khoa học liên ngành cung cấp. Do đó, “phân khúc thị trường” của KHXH&NV và khoa học liên ngành trong kỷ nguyên mới chính là quá trình phát triển nhanh và bền vững ở các địa phương.
Hệ thống giáo dục Việt Nam chính là “phân khúc thị trường” quan trọng thứ ba của KHXH&NV Việt Nam. KHXH&NV có sứ mệnh cung cấp học liệu cho nhiều môn học, ngành học trong hệ thống giáo dục từ bậc mầm non đến sau đại học, trong đó có các môn học như Ngữ Văn, Giáo dục công dân, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Kinh tế và pháp luật, Giáo dục địa phương, Mỹ thuật, Ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số... Đây là những môn học vô cùng quan trọng ở bậc phổ thông, nhằm trang bị hành trang văn hóa và giúp thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước - phát triển nhân cách, vun bồi tư cách công dân. Đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho sự bền vững của văn hóa Việt Nam và chế độ chính trị, để dân tộc Việt Nam hội nhập và tỏa sáng trên hoàn cầu. Vì thế Nhà nước cần đặt hàng giới KHXH&NV Việt Nam cung cấp cho “phân khúc thị trường” này những sản phẩm ưu tú nhất thông qua các giải pháp phù hợp.
Khối các doanh nghiệp Việt Nam cũng là một “phân khúc thị “ quan trọng của KHXH&NV Việt Nam. Không chỉ các chiến lược sản xuất, kinh doanh, phát triển thương hiệu, quản trị doanh nghiệp, mà các phương thức giao tiếp chủ - thợ, trong nước - nước ngoài rất cần có sự tư vấn, góp sức của các chuyên gia KHXH&NV. Mặt khác, trong kỷ nguyên mới, công nghiệp văn hóa, kinh tế văn hóa cũng là những định hướng phát triển quan trọng. Bảo đảm phúc lợi văn hóa cho hàng triệu người lao động cũng là một nhu cầu lớn. KHXH&NV có thể chung tay với doanh nghiệp để trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả, góp phần vào việc đạt được tăng trưởng liên tục hai con số của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm liên tục.
Toàn xã hội Việt Nam là “phân khúc thị trường chính” cuối cùng, cũng rất quan trọng của KHXH&NV. Nâng cao dân trí, củng cố nền tảng trí tuệ, tinh thần, văn hóa của dân tộc Việt Nam là sứ mệnh thiêng liêng của KHXH&NV Việt Nam. Đặc biệt là trong kỷ nguyên chuyển đổi số, cuộc cạnh tranh khốc liệt sẽ diễn ra giữa nhiều thế lực, nhiều bên nhằm chi phối giá trị tinh thần và định hướng giá trị của các xã hội, trong đó có xã hội Việt Nam. Đảng và Nhà nước sớm có giải pháp để giúp cho KHXH&NV giành lại thị trường quốc nội và từng bước tiến ra thị trường toàn cầu.
Thứ năm là tăng cường năng lực đối thoại toàn cầu của KHXH&NV Việt Nam.
Đáng tiếc, một trong những một hạn chế rất lớn của KHXH&NV Việt Nam lại là năng lực và hiệu quả tham gia đối thoại học thuật toàn cầu. Có thể nói một bộ phận lớn các nhà khoa học thuộc lĩnh vực này kém ngoại ngữ, hoặc nếu có biết ngoại ngữ thì cũng chỉ ở trình độ thấp, gặp khó khăn khi giao tiếp, trao đổi học thuật với đồng nghiệp nước ngoài. Ngay cả khả năng đọc tài liệu bằng tiếng nước ngoài cũng rất chậm. Với sự phát triển của các công cụ hỗ trợ, rào cản ngoại ngữ sẽ giảm dần. Thế hệ nhà KHXH&NV trẻ tuổi cũng giỏi ngoại ngữ hơn. Song, ở đây là năng lực đối thoại học thuật toàn cầu về lý thuyết học thuật, phương pháp nghiên cứu và về cách tiếp cận mới thực sự quan trọng. Để cải thiện tình hình, chúng tôi kiến nghị những giải pháp hỗ trợ cho họ nâng cao năng lực đối thoại học thuật toàn cầu: Bồi dưỡng nâng cao tư duy toàn cầu; bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ; tháo gỡ các rào cản trong hợp tác quốc tế về khoa học; ban hành tiêu chuẩn bắt buộc về mức độ toàn cầu hóa cho từng ngành, chuyên ngành KHXH&NV.
Thứ sáu là đổi mới phương thức đánh giá đối với KHXH&NV Việt Nam. Mỗi lĩnh vực, thậm chí mỗi ngành, chuyên ngành khoa học cần và nên có phương thức, hệ tiêu chí và bộ công cụ đo lường, đánh giá riêng, bởi vì mục đích quan trọng nhất của việc đánh giá là đo lường được, xác định được mức độ đóng góp, hiện thực hóa các mục tiêu của lĩnh vực, ngành, hay chuyên ngành khoa học đó. Đồng thời, việc đánh giá cũng phải chỉ ra cho được hiệu suất (đầu vào - đầu ra), mức độ lành mạnh và những nguy cơ, khuyết tật của đối tượng được đánh giá, nhờ đó mà người ta có giải pháp đầu tư, điều chỉnh phương thức phát triển...
Thứ bảy, cần xây dựng và phát triển Bộ dữ liệu nền quốc gia (về địa lý, dân cư, chính trị, hành chính, lịch sử, văn hóa, kinh tế vv) và không ngừng cập nhật (đúng, đủ, sạch, sống) để làm cơ sở, làm công cụ cho nền quản trị quốc gia và đảm bảo an ninh dữ liệu quốc gia trong kỷ nguyên số hóa.
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) dữ liệu số hóa không chỉ là tài nguyên, tài sản mà còn là nguồn vốn trực tiếp cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh; là cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, văn hóa nghệ thuật... Đó cũng là cơ sở để bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian số, nhất là trong kỷ nguyên AI, ai chiếm lĩnh và kiểm soát được nguồn dữ liệu số hóa, người đó sẽ nắm quyền thao tác rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia cần được liên tục phát triển, đảm bảo đúng, đủ, sạch, sống và được quản trị tốt.
Vì vậy, việc Nhà nước đầu tư, giao cho một số cơ quan khoa học như Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức xây dựng và quản lý Bộ cơ sở dữ liệu nền tảng quốc gia là việc làm vô cùng cần thiết và cấp bách, chắc chắn sẽ mang lại nhiều đóng góp to lớn, có ý nghĩa thiết thực, tạo nền tảng quan trọng để KHXH&NV phát triển trong kỷ nguyên mới.