Khoa học cơ bản và lời hiệu triệu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Thông điệp và tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ là sự động viên vô cùng to lớn đối với đội ngũ trí thức, khoa học nước nhà, mà còn là một lời hiệu triệu. Thông điệp đó khơi dậy khát vọng cống hiến, sáng tạo và khát vọng đưa khoa học Việt Nam vươn lên ngang tầm khu vực, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế.

Sáng 25/5, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo để cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản.

Tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có những chỉ đạo mang tầm chiến lược về khoa học cơ bản, nhấn mạnh vai trò của khoa học cơ bản như một “năng lực chiến lược quốc gia”. Tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã mang lại kỳ vọng lớn lao cho các nhà khoa học, giới nghiên cứu nước nhà. PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ khoa học (GS.TSKH) Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) về nội dung này.

PV: Là một nhà khoa học lớn, dành trọn cuộc đời cho nghiên cứu, đào tạo, GS có suy nghĩ và cảm xúc gì trước những tư tưởng chỉ đạo và thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về khoa học cơ bản?

GS Nguyễn Đình Đức: Trước hết, tôi cho rằng những thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về khoa học cơ bản là những chỉ đạo rất sâu sắc, kịp thời, rất đúng, rất trúng và có tầm chiến lược dài hạn.

Với một người làm khoa học đã dành nhiều năm cho nghiên cứu, đào tạo và xây dựng đội ngũ, tôi thực sự xúc động khi khoa học cơ bản được nhìn nhận đúng với vai trò nền tảng của nó.

Khoa học cơ bản không phải là lĩnh vực xa rời thực tiễn, càng không phải là thứ “xa xỉ” chỉ dành cho các quốc gia phát triển. Ngược lại, đó chính là gốc rễ của năng lực tự chủ tri thức, tự chủ công nghệ và tự cường để phát triển quốc gia.

6cad2d87-72f4-4642-938f-01ba47d5f483.jpg
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, mọi đột phá lớn về công nghệ, từ vật liệu mới, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới cho đến chinh phục không gian, đều bắt nguồn từ những phát hiện nền tảng trong khoa học cơ bản.

Nếu không có toán học, vật lý, hóa học, sinh học, cơ học, khoa học vật liệu và các ngành khoa học cơ bản nền tảng khác, sẽ không thể có những công nghệ chiến lược làm thay đổi vị thế của một quốc gia. Vì vậy, khi người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước nhấn mạnh vai trò của khoa học cơ bản, tôi cảm nhận được một sự chuyển biến rất quan trọng trong tư duy phát triển: Việt Nam không chỉ đi theo, tiếp nhận hay ứng dụng công nghệ của thế giới, mà phải từng bước làm chủ tri thức, làm chủ công nghệ lõi, tạo ra năng lực sáng tạo của chính mình. Muốn như vậy, không có con đường nào khác là phải đầu tư bài bản, lâu dài, đặt kỳ vọng và niềm tin vào khoa học cơ bản của nước nhà.

Và một điểm tôi cho là đặc biệt sâu sắc trong các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là khoa học cơ bản được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với vận mệnh phát triển quốc gia. Trước đây, có lúc chúng ta nhìn khoa học cơ bản như một lĩnh vực hàn lâm, xa thực tiễn, khó nhìn thấy hiệu quả ngay. Nhưng trong kỷ nguyên mới, nhất là khi thế giới đang cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới và các công nghệ chiến lược, thì khoa học cơ bản chính là nền móng để hình thành năng lực công nghệ lõi.

Tôi cũng rất tâm đắc với tinh thần tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt cho nghiên cứu cơ bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Đây là vấn đề cốt lõi. Khoa học cơ bản cần sự đầu tư dài hạn, cần cơ chế tài chính phù hợp, cần môi trường học thuật tự do, cần chấp nhận rủi ro và cần đánh giá theo chuẩn mực khoa học, chứ không thể chỉ quản lý bằng tư duy hành chính hoặc bằng những tiêu chí ngắn hạn. Nhiều công trình khoa học lớn trên thế giới không tạo ra sản phẩm tức thì, nhưng lại mở ra cả một ngành công nghệ, một hướng phát triển hoặc một năng lực cạnh tranh mới cho quốc gia sau rất nhiều năm tích lũy.

nckh-1.jpg
Nhà khoa học cần được trao quyền tự chủ cao hơn trong nghiên cứu khoa học.

PV: Vậy theo GS, đâu là những “nút thắt, điểm nghẽn” đang kìm hãm khoa học cơ bản phát triển? Và chúng ta nên giải quyết “nút thắt, điểm nghẽn” này theo hướng nào?

GS Nguyễn Đình Đức: Tôi cho rằng, “nút thắt” lớn nhất ở đây liên quan đến cơ chế quản trị khoa học và quản trị đại học - vì các trường đại học, viện nghiên cứu chính là những cái nôi của khoa học cơ bản. Hiện nhiều nơi vẫn quản lý khoa học bằng tư duy hành chính, bằng tầm nhìn ngắn hạn, bằng dự toán theo năm, bằng tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, khiến nhà khoa học bị phân tán năng lượng và năng lực vào đống hồ sơ, chứng từ, thanh quyết toán thay vì tập trung vào sáng tạo.

Nhiều nhà khoa học không thiếu ý tưởng, không thiếu khát vọng cống hiến, nhưng lại bị ràng buộc bởi quá nhiều thủ tục hành chính, quy trình tiền kiểm và cơ chế đánh giá còn nặng tính hình thức. Do đó, để khoa học cơ bản không còn bị kìm hãm, thì phải nhanh chóng chuyển từ "quản lý hành chính" sang "quản trị sáng tạo", từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; đồng thời chấp nhận rủi ro khoa học phải được xem là một trong những thay đổi có tính đột phá nhất. Đặc biệt, nhà khoa học cần được trao quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng kinh phí, tổ chức nhóm nghiên cứu, lựa chọn phương pháp, hợp tác quốc tế và theo đuổi các ý tưởng mới. Đổi lại, họ phải chịu trách nhiệm giải trình bằng chất lượng khoa học, liêm chính học thuật, tác động dài hạn và đóng góp cho quốc gia.

PV: GS vừa nói đến khái niệm “chấp nhận rủi ro khoa học”, theo nhiều nhà khoa học, điều này vô cùng cần thiết, đặc biệt với các công trình cần sự thử nghiệm, tuy nhiên, “rủi ro khoa học” cần có tiêu chí đánh giá cụ thể, để không bị “biến tướng”. Quan điểm của GS về vấn đề này ra sao?

GS Nguyễn Đình Đức: Đúng vậy, nghiên cứu cơ bản không phải lúc nào cũng cho kết quả ngay trong một hai năm; nhiều phát hiện lớn cần thời gian tích lũy, cần môi trường học thuật tự do, cần đội ngũ nhà khoa học được tin tưởng và được trao điều kiện để theo đuổi những câu hỏi lớn. Nếu chúng ta quản lý khoa học chỉ bằng tư duy hành chính, chỉ đòi hỏi sản phẩm ngắn hạn, thì rất khó có những công trình có tầm vóc quốc tế.

Nếu không chấp nhận rủi ro khoa học thì sẽ chỉ có những đề tài an toàn và ít đột phá. Nếu mọi việc đều phải xin phép trước, giải trình trước, chứng minh trước, thì khoa học sẽ mất đi tính mạo hiểm và sáng tạo. Nghiên cứu cơ bản luôn có rủi ro. Có những hướng đi ban đầu chưa thấy ngay kết quả, nhưng sau nhiều năm có thể mở ra một lĩnh vực mới. Tôi cũng đồng tình là cần xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể về “rủi ro khoa học”, để minh bạch trong quản lý, đồng thời nhà khoa học yên tâm nghiên cứu, và dám dấn thân, dám chấp nhận nếu có thất bại bước đầu.

nckh-2.jpg
Cần kết nối bốn nhà: Nhà nước – doanh nghiệp – trường đại học và nhà khoa học để xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu.

PV: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra rằng, chúng ta chưa hình thành được một hệ sinh thái nghiên cứu có chiều sâu, có tích lũy và có khả năng tạo ra tri thức mới một cách bền vững. Vậy theo GS, để xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu nhân văn, có chiều sâu, chúng ta phải bắt đầu từ đâu?

GS Nguyễn Đình Đức: Tôi cũng cho rằng, đây là thời điểm rất quan trọng và chín muồi để Việt Nam xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản hiện đại, trong đó các đại học nghiên cứu, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm và các nhóm nghiên cứu mạnh phải được đặt ở vị trí trung tâm.

Xây dựng một hệ sinh thái khoa học trên nền tảng nhân văn chính là nơi nhà khoa học được tôn trọng, tri thức được sử dụng có trách nhiệm, và các chính sách dựa trên các cơ sở khoa học, không dựa trên áp đặt chủ quan duy ý chí.

Chúng ta cần kết nối bốn "nhà": Nhà nước – doanh nghiệp – trường đại học và nhà khoa học, để tạo dòng chảy tri thức từ phòng thí nghiệm đến đời sống, từ nhà trường, nhà khoa học đến thượng tầng xã hội, biến khoa học thành đổi mới sáng tạo, thay đổi căn bản phương thức và lực lượng sản xuất, từ đó đem lại giá trị gia tăng, của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội.

Khi khoa học được định hướng bởi trách nhiệm xã hội và những giá trị nhân văn, gắn với văn hóa và truyền thống, điều đó không chỉ giúp một quốc gia phát triển mạnh, mà còn phát triển bền vững, và cũng từ đó góp phần để thế giới ngày càng hòa bình, ổn định, công bằng và thịnh vượng.

Tôi thấy rất phấn khởi, tin tưởng và cũng cảm nhận rõ hơn trách nhiệm của thế hệ các nhà khoa học hôm nay. Chúng tôi đã đi qua nhiều giai đoạn khó khăn của đất nước, của khoa học Việt Nam, chứng kiến những thăng trầm của cơ chế, thiếu thốn về điều kiện nghiên cứu, kinh phí và môi trường học thuật. Nhưng cũng chính từ những khó khăn đó, chúng ta càng hiểu rằng muốn đất nước phát triển nhanh và bền vững, khoa học phải được đặt vào trung tâm của chiến lược quốc gia.

Thông điệp và tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ là sự động viên vô cùng to lớn đối với đội ngũ trí thức, khoa học nước nhà, mà còn là một lời hiệu triệu. Thông điệp đó khơi dậy khát vọng cống hiến, sáng tạo và khát vọng đưa khoa học Việt Nam vươn lên ngang tầm khu vực, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế.

Tôi tin rằng nếu những chỉ đạo đó được cụ thể hóa bằng cơ chế đủ mạnh, đầu tư đủ lớn, chính sách đủ thông thoáng và sự trọng dụng thực chất đối với nhân tài, thì khoa học cơ bản Việt Nam sẽ có bước phát triển mới. Chúng ta sẽ làm chủ những công nghệ lõi, tạo ra những công nghệ mới, những ngành công nghiệp mới, những sản phẩm có giá trị cao, góp phần xây dựng một Việt Nam tự cường, sáng tạo và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

PV: Xin trân trọng cảm ơn GS!

Thu Phương (thực hiện)

Các tin khác

Đại sứ Philippines: Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa lịch sử

Đại sứ Philippines: Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa lịch sử

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Manila từ ngày 31/5 - 1/6. Trao đổi với Báo CAND trước thềm chuyến thăm, Đại sứ Philippines tại Việt Nam Francisco Noel R. Fernandez III nhấn mạnh, chuyến thăm diễn ra đúng dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, tạo cơ hội để hai bên nhìn lại chặng đường hợp tác nửa thế kỷ, đồng thời định hình tầm nhìn cho quan hệ song phương trong 50 năm kế tiếp và xa hơn nữa.

Khai mạc Hội nghị Hội đồng nhân dân toàn quốc Triển khai phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2026-2031

Nhiệm kỳ 2021-2026 là một nhiệm kỳ đặc biệt trong lịch sử hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp

Hội nghị không chỉ nhằm tổng kết nhiệm kỳ hoạt động của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, mà còn là dịp để nhìn nhận đầy đủ hơn vị trí, vai trò của cơ quan dân cử địa phương trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đồng thời, đánh giá sâu sắc những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, bài học kinh nghiệm và định hướng hoạt động của HĐND nhiệm kỳ 2026-2031.

Mở rộng không gian hợp tác mới, lan tỏa thông điệp trách nhiệm

Mở rộng không gian hợp tác mới, lan tỏa thông điệp trách nhiệm

Theo trang AsiaInvest Singapore, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là cơ hội quan trọng để hai bên tiếp tục củng cố hợp tác, làm sâu sắc thêm kết nối kinh tế trong những năm tới, khẳng định vai trò và tiếng nói ngày càng nổi bật của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và quốc tế.