365 là số ngày ông bị bắt tạm giam. Còn 388 là Nghị quyết số 388 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Vâng, trong cuộc đời người đàn ông ấy đã có những thăng trầm, biến động mà phải chờ đợi hơn 10 năm sau mới lấy lại được sự công bằng.
1. Đến hôm nay, cái cảm giác như được “hồi sinh” vẫn còn nguyên vẹn trong ông. Thật ra, ông đã chờ đợi ngày này từ rất lâu, nhưng khi nó đến, trong ông lại cuộn lên những cảm xúc lẫn lộn. Vui có, buồn có, tất nhiên vui nhiều hơn. Khi Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tiến hành thương lượng rồi bồi thường cho ông trên 50 triệu đồng, tiếp đó là xin lỗi công khai ông tại UBND xã và đăng lời xin lỗi 3 kỳ liên tiếp trên báo Lạng Sơn, chỉ hơn một tháng sau là Tết Canh Dần 2010. Nhà ông ai cũng vui, ra vào nói cười rôm rả. Ông ra đường mọi người chào hỏi ông với ánh mắt thân thiện và ông có thể ngẩng cao đầu mỗi khi như vậy.
Ông Nhẫn nhớ lại: Đêm giao thừa bước sang năm 2010, sau khi cúng gia tiên và con cháu chúc Tết ông bà xong, ông không tài nào chợp mắt được. Một mình ông lặng lẽ bước ra hiên nhà. Tất cả câu chuyện về những tháng ngày cay đắng đó như những thước phim quay chậm lần lượt hiện về. Ông bị bắt, gia đình vốn thiếu thốn lại càng khó khăn hơn. Trước ông còn ở nhà, mọi việc lớn nhỏ đều đến tay. Giờ, gánh nặng trút lên đôi vai vợ ông, bà Nguyễn Thị Gắng, người đàn bà tần tảo, có với ông 5 mặt con và cùng ông chèo lái con thuyền gia đình.
Ngày đó, thương chồng nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn, bà Gắng chỉ còn biết về quê chồng ở Thường Tín, Hà Nội bán toàn bộ số đất hương hỏa để có tiền lo mọi việc trong nhà. Những đứa con đang tuổi ăn, tuổi lớn vậy mà nhiều hôm phải ăn sắn trừ bữa. Vào đúng ngày ông Nhẫn bị bắt, bà còn bị một nhóm người xông vào nhà đánh đập rất dã man. Bà đã ngất đi. Đến hôm nay, di chứng từ trận đánh đó vẫn còn khiến đôi chân bà đi tập tễnh, những ngày trái gió trở trời toàn thân lại đau nhức…
Sau 365 ngày sống ở Trại tạm giam, ông được trả tự do. Ngôi nhà vốn xơ xác giờ càng tiêu điều hơn. Lại phải bắt đầu từ đôi bàn tay trắng cùng với nỗi oan gánh chịu. Nhưng cả ông bà và các con đều không nản. Bởi trong ông có một niềm tin mãnh liệt, đến một ngày nào đó, nhất định ông sẽ được minh oan và ông sẽ có một cuộc sống bình thường như bao con người khác.
2. Quê ông ở Thường Tín, Hà Nội. Sau khi lấy vợ, sinh con, thu nhập của hai vợ chồng chẳng thấm vào đâu nên nghe theo lời một người bạn thân, năm 1980, ông quyết định một mình lên vùng Hữu Lũng, Lạng Sơn. Tại vùng đất xa lạ này, ông cần mẫn khai hoang, trồng trọt, làm thuê nên mấy năm sau đã dựng được một nếp nhà với mấy sào ruộng. Đến năm 1985, ông mới đưa vợ con lên đây. Mảnh đất tưởng sẽ mang lại cuộc sống yên bình, no ấm với gia đình ông lại chính là nơi đã đưa ông đến một bi kịch lớn nhất cuộc đời.
… Thằng con trai thứ hai của ông tên là Đào Văn Nguyên. Học hành nhì nhằng nên tốt nghiệp phổ thông, Nguyên ở nhà làm ruộng. Năm 1990, tròn 20 tuổi, Nguyên quan hệ tình cảm với Trần Thị Thúy, một cô gái nhanh nhẹn, tháo vát nhà cũng ở ngay trong xã. Tình cảm hai người ngày càng gắn bó và gia đình hai bên cũng đồng ý để hai người tìm hiểu, qua lại với hy vọng Nguyên và Thúy sẽ nên vợ thành chồng.
Tháng 5/1992, Thúy quen biết với anh Trần Mạnh Hà (làm phụ xe ôtô) trong những lần mẹ con Thúy lên Đồng Mỏ bán dứa. Không biết tình cảm của Thúy dành cho Hà thân thiết đến mức nào nhưng mỗi lần bí mật theo dõi hai người nói chuyện, Nguyên thấy Hà và Thúy đều rất vui vẻ. Hà còn tặng Thúy một chiếc nhẫn, Thúy không những không từ chối mà còn đeo vào tay khiến mỗi lần nhìn xuống bàn tay Thúy, Nguyên rất nóng mắt. Chỉ nghĩ đến những lần Thúy và Hà gặp nhau, rồi hai người gần gũi đã khiến máu trong người Nguyên sôi lên và Nguyên rắp tâm thực hiện kế hoạch trả thù Thúy.
Một tối tháng 12/1992, đợi cho gia đình Thúy cơm nước xong, Nguyên sang nhà rủ Thúy lên đồi tâm sự. Trước khi đi, Nguyên giấu trong người một con dao. Quanh họ là rừng cây đen thẫm và sự yên ắng của trời đêm. Không như mọi lần hỏi han tình cảm, mới ngồi xuống vệ cỏ, Nguyên đã căn vặn, bắt Thúy giải trình về mối quan hệ giữa Thúy và Hà.
Một lần nữa, cô khẳng định với Nguyên là giữa cô và Hà không hề có chuyện yêu đương nhưng dù đã nói trong nước mắt, Nguyên vẫn không tin. Vào đúng lúc cô quay đầu sang hướng khác, Nguyên bất ngờ rút con dao nhọn trong người đâm cô liên tiếp nhiều nhát khiến cô gục xuống. Bỏ mặc Thúy ở đó, Nguyên chạy xuống đồi, về nhà tắm rửa, thay quần áo rồi trốn về quê ngoại ở Hưng Yên.
Tối hôm đó, thấy con không về, cả nhà Thúy đã đốt đuốc đi tìm. Sang nhà cũng không thấy Nguyên ở nhà khiến mối nghi ngờ về sự mất tích của Thúy càng lớn. Mãi đến 10 ngày sau, người ta mới tìm thấy xác Thúy lúc này đang trong thời kỳ phân hủy mạnh.
Cùng với việc truy bắt hung thủ vụ án là Đào Văn Nguyên, ông Đào Văn Nhẫn cũng bị bắt vì người ta cho rằng ông có liên quan đến vụ trọng án này. Ông bị giam từ ngày 8/12/1992 theo Lệnh tạm giam của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn cho đến ngày 9/12/1993 thì được về.
Như vậy thời gian ông sống trong Trại tạm giam tròn một năm. Khi bị bắt, họ đưa ra lý do rằng, ông là đồng phạm trong vai trò giúp sức, khi thủ phạm gây án xong, ông còn che giấu khiến cho việc điều tra gặp khó khăn. Với Đào Văn Nguyên, Tòa án 2 cấp đã xét xử và tuyên phạt 20 năm tù về tội giết người. Ngày 15/10/1997, Nguyên bị chết tại Trại giam Tân Lập vì suy hô hấp cấp.
Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn là cơ quan có lỗi trong việc ông bị oan. Trở về nhà, ông nhiều lần gửi đơn đòi minh oan đến các cơ quan bảo vệ pháp luật. Sau khi Nghị quyết 388 ra đời và có hiệu lực, ông mới được minh oan và nhận bồi thường. Để đến được ngày đó, ông và gia đình đã phải chờ đợi mỏi mòn hơn 10 năm trời.
3. Một ngày cuối năm 2011, tôi tìm về nhà ông. Năm nay rét muộn nên cây đào trước sân nhà ông đã nở bung từ lúc nào. Tự tay ông pha trà rồi rót ra chén đưa tôi. Hương trà thơm ngát, vương trong không gian. Còn bà Gắng, vợ ông thập thững từng bước quét đám lá rụng ngoài vườn. Nhờ trời, các con ông bà đều là người chăm chỉ lao động, có trách nhiệm với bố mẹ nên ông bà không còn phải lo lắng gì cho các con.
- Với số tiền nhận được, tuy không nhiều, bác sử dụng nó như thế nào? - sau một hồi trò chuyện thân mật, tôi hỏi ông.
- Chẳng giấu gì anh, việc đầu tiên là làm bữa cơm liên hoan toàn thể mọi người trong nhà và cảm ơn ông bà tổ tiên đã phù hộ cho mình. Tiếp đó, vợ chồng tôi định chia cho các cháu mỗi đứa một tý gọi là, nhưng chúng đều không nhận, nói là để bố mẹ mua thuốc chữa bệnh. Tuổi già sầm sập, bệnh tật đầy người, đụng đến chỗ nào cũng bệnh nên số tiền đó thấm tháp gì?
- Đến giờ, tinh thần bác chắc đã thoải mái. Vậy bác còn nguyện vọng gì không?
- Có chứ. Họ chỉ bồi thường tôi khoản tiền thu nhập thực tế bị mất chứ còn bao khoản khác họ có nói tới đâu, như tổn hại về tinh thần, tiền phục hồi sức khỏe bởi một năm bị giam, mắt tôi mờ nhiều, tai trở nên nghễnh ngãng… Ngồi thương lượng với họ mà cứ như mình phải xin họ vậy.
Nắm chặt hai tay ông, tôi nói:
- Dẫu sao bác vẫn là người may mắn khi có Nghị quyết 388, được minh oan và nhận tiền bồi thường. Bác hãy vui vẻ mà sống nốt quãng đời còn lại của mình!
Ông Nhẫn gật gật đầu và nhìn tôi cười, nụ cười móm mém bởi những chiếc răng cửa rụng gần hết. Tôi tạm biệt ông và hẹn một dịp khác sẽ về thăm ông. Ông tiễn tôi xuống tận đầu con dốc thẳng đứng sát nhà và đợi chiếc xe lăn bánh. Tôi ngoái đầu lại, nhìn cái dáng cao gầy của ông cho đến khi chìm khuất vào màu xanh ngút ngàn của núi rừng. Vậy là gia đình ông có một cái Tết đầm ấm và hạnh phúc