Thu nhập thấp, chi phí cao
Bà Phạm Thị Thanh Hồng, Phó Ban nữ công Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chủ nhiệm đề tài cho biết, theo kết quả điều tra, thu nhập thực tế của đa số người lao động, trong đó có lao động nữ nhập cư hiện nay còn quá thấp, không đủ để trang trải cho các chi phí cần thiết cho sinh hoạt hằng ngày, một số lao động có tay nghề cao mới có tích lũy tiết kiệm. Lao động nữ nhập cư có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 31.3%; từ 3,1 - 4 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 39,7% và từ 4,1 - 5 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 28,6%; tỷ lệ có thu nhập trên 5 triệu đồng tháng là rất thấp, khoảng 2%. 88,8% lao động nữ nhập cư phải làm thêm để tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống. Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới càng làm cho mức sống của bộ phận lao động này khó khăn hơn.
Trong khi đó, DN có xu hướng chia cắt tiền lương, trả lương cho người lao động ngang bằng với mức lương tối thiểu, trả thêm các khoản phụ cấp khác như tiền chuyên cần, xăng xe, ăn trưa... nhưng khi DN gặp khó khăn thì sẵn sàng cắt những khoản phụ cấp trên khiến thu nhập người lao động lại thấp đi và không ổn định, cuộc sống càng bấp bênh, khó khăn hơn.
Một bộ phận không nhỏ lao động nữ nhập cư có thu nhập chưa đáp ứng đủ nhu cầu sống trung bình, thậm chí là mức sống tối thiểu trong giai đoạn hiện nay. Qua bảng cơ cấu chi tiêu tối thiểu như ăn ở, đi lại, chi phí khám chữa bệnh và nuôi con nhỏ bình quân ở mức 5-7 triệu đồng/tháng (3-4 người). Điều đó buộc lao động nữ nhập cư phải cắt giảm chi tiêu tối đa ở mức tiết kiệm (39,1%) và tự đánh giá mức thu nhập trên không đủ trang trải (36,1%). Việc chi tiêu cho ăn, uống bình quân là 1,7 triệu đồng/tháng/người. Về nhà ở, 23% nhà trọ KCN không khép kín, các công trình vệ sinh, nhà tắm dùng chung; có 35,7% có chỗ nấu ăn nhưng không có nhà vệ sinh, còn lại là nhà trọ khép kín, nhưng phòng vệ sinh chật chội và tối.
Thu nhập thấp nhưng lao động nữ nhập cư phải chi một khoản tiền không nhỏ cho việc thuê nhà, bình quân 350.000 đồng đến trên 1 triệu đồng/người/tháng, chiếm tỷ lệ đáng kể (từ 1/5 - 1/8) trong tiền lương. Ngoài ra còn các khoản xăng xe, điện thoại chiếm 1/7 tiền lương.
Đối với chi phí cho việc nuôi con nhỏ ăn học: có 40,8% cho rằng họ chi dưới 1 triệu đồng; 34,3% chi từ trên 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng/tháng, 14,8% chi từ trên 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng/tháng; chỉ có 10,1% chi trên 3 triệu đồng/tháng. Mức chi này tùy thuộc vào số con trong gia đình. Kết quả khảo sát cho thấy, có 33,8% lao động nữ nhập cư gửi con vào nhà trẻ tư, chỉ có 19,6% được gửi vào nhà trẻ công lập, tỷ lệ gửi con về quê nhờ ông bà trông giúp và đón ông bà, người thân ở quê lên trông giúp cao. Như vậy, lao động nữ nhập cư gặp phải rào cản khi tiếp cận giáo dục công lập cho con em.
Cần được nâng cao trình độ để có thu nhập cao hơn
Một thực trạng nổi lên là lao động nữ nhập cư có tuổi đời còn khá trẻ, từ 18 - 40 tuổi chiếm 97,9%. Tỷ lệ đã kết hôn: 71,7% và đã có con: 62,1%. Trình độ chuyên môn kỹ thuật hạn chế: có 44,3% chưa qua đào tạo, đối với lao động đã qua đào tạo có tới 77% phải đào tạo lại tại DN mới có thể để đáp ứng công việc. Tỷ lệ lao động nữ nhập cư phải thuê nhà trọ hoặc ở nhờ nhà người thân chiếm tỷ lệ cao chiếm 70,8%, chỉ có 2% được ở nhà doanh nghiệp và 28,8% ở nhà riêng. Tỷ lệ lao động nữ nhập cư được ký hợp đồng lao động dài hạn chiếm khoảng 50%; từ 1- 3 năm chiếm tỷ lệ 45,9%, được ký hợp đồng dưới 1 năm là 3,7%, có 1,4% không có hợp đồng lao động. Hiện tại, địa phương có các KCN, KCX chưa có quy hoạch, kế hoạch xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho người lao động, trong đó có người lao động nhập cư.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận với các dịch vụ này tại KCN còn hạn chế do việc thiếu đồng bộ trong việc dành quỹ đất và hạn chế về kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng cho hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí cho người lao động. Hệ thống này đang bị quá tải khi người lao động trong các KCN, KCX gia tăng nhanh. Mặc dù mức thu nhập thấp như vậy nhưng họ vẫn phải chi tiêu eo hẹp để gửi về hỗ trợ người thân trong các dịp Tết, lễ hoặc gia đình có chuyện đột xuất, cũng như dự phòng cho các vấn đề sức khỏe.
Nghiên cứu của Tổng Liên đoàn Lao động Việ Nam đã đưa ra nhiều khuyến nghị để cải thiện những bất cập của lao động nữ nhập cư, đáng chú ý là đề xuất cần có chính sách, chương trình cụ thể nâng cao trình độ cho lao động nữ để họ có cơ hội tham gia vào việc làm có chất lượng tốt, đòi hỏi trình độ cao trong các ngành công nghiệp mới để có mức thu nhập cao hơn.
Về vấn đề này, TS Đặng Quang Điều, thành viên Hội đồng tiền lương Quốc gia, Trưởng ban CSPL Tổng Liên đoàn khẳng định, với khoảng 15 triệu người lao động làm việc trong các loại hình DN hiện này, chính sách tiền lương với khu vực DN tác động trực tiếp đến đời sống 15 triệu người và khoảng 15 triệu con cái họ. Nếu duy trì mức lương tối thiểu thấp để quảng bá về lao động giá rẻ, thu hút đầu tư thì người lao động và con cái họ sẽ bị thiệt thòi. Để đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ người lao động ở các KCN, KCX, cần sớm điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng đảm bảo mức sống tối thiều vào năm 2015, đồng thời tăng cường kiểm soát cơ chế lương của DN và kiểm soát về giá cả các mặt hàng thiết yếu.
| Qua số liệu khảo sát về tiền lương, thu nhập và mức sống tối thiểu của người lao động cho thấy: Mức chi tiêu trung bình cho nhu cầu sinh hoạt hằng tháng của người lao động (có nuôi con) là 3,905 triệu đồng, trong đó vùng I là 4,47 triệu đồng, vùng II là 3,74 triệu đồng, vùng III là 3,55 triệu đồng, vùng IV là 3,12 triệu đồng. Mức chi tiêu này đã cao hơn mức tiền lương trung bình mà người lao động nhận được. |