Theo đơn kiện, đầu tháng 9/2010, Công ty Phước nhập khẩu 2 lô hàng từ Nhật về gồm chân camera video các loại, 3 nhánh bánh xe và các bộ phận khác của chân camera. Công ty mở tờ khai hải quan cho lô hàng thứ nhất ngày 9/9 và lô thứ hai ngày 7/10/2010 áp cùng một mã số thuế là “bộ phận chuyên dùng hoặc chủ yếu dùng cho camera hoặc máy ghi video camera”, với mã số thuế 8525 và 8529 của “Biểu thuế xuất nhập khẩu” do Bộ Tài chính ban hành quy định mức thuế suất ưu đãi 0%.
Đến ngày 20/9/2010 và 2/11/2010, Chi cục trưởng Hải quan cửa khẩu Tân Cảng ban hành hai quyết định 20304 và 22888 để áp thuế 15% theo mã hàng 7616, buộc Công ty Phước phải nộp tổng cộng hơn 140 triệu đồng. Không đồng ý với quyết định này, công ty đã khởi kiện vụ việc ra tòa, yêu cầu hủy hai quyết định trên vì cho rằng mã 7616 là chương có tên gọi “các sản phẩm bằng nhôm” chỉ dành cho các hàng hóa chưa được định danh, bao gồm: đai ốc, bu-lông, lưới rào, mành, bàn đạp, móc treo quần áo… còn hàng mà đơn vị này nhập về là phụ tùng, một bộ phận, phụ tùng của camera.
Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX tuyên bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng chân máy quay là “phụ tùng” không phải “bộ phận” của máy quay. Đồng thời, mã hàng 9007 cũng không thể sử dụng áp vào đây, do mặt hàng này không nằm trong nhóm để áp mã 9007.
Tuy nhiên HĐXX cấp phúc thẩm lại nhận định khác khi cho rằng việc áp mã thuế đối với chân máy camera, thuế suất 0% của Công ty Phước là có cơ sở. Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh, cơ quan thuế cũng có văn bản cho rằng mặt hàng này thuế suất 0%. Còn cách áp mã thuế của Hải quan Tân Cảng là không đúng với hướng dẫn của cấp trên, không đúng với biểu thuế 216 năm 2009. Vì vậy, HĐXX tuyên hủy hai quyết định 20304 và 22888, hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền thuế đã nộp