Trắc trở hành trình đòi lại khu lăng mộ
Cụ Nguyễn Công (tức Thảo) có xây dựng một khu nghĩa địa tại thôn Bái Ân, xã Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội (nay là ngách 3, ngõ 191 Lạc Long Quân, phường Nghĩa Đô), diện tích 2.185m2 có cổng trước, cổng sau, tường rào bao quanh. Trong khu đất có một nhà thờ diện tích khoảng 27m2, một nhà văn bia khoảng 8m2, nhà cho người trông coi mộ và 22 ngôi mộ. Năm 1955 cụ Lý Thị Mùi (vợ thứ ba của cụ Nguyễn Công) thuê bà Nguyễn Thị Hội trông coi khu nhà thờ và nghĩa địa. Ngày 17/3/1958, bà Nguyễn Thị Tuyết Oanh (con cụ Nguyễn Công và cụ Mùi) và ông Nguyễn Văn Liễu lập “Giấy hợp đồng cho ở nhờ trong nghĩa địa”, trong đó có nội dung “đồng ý cho ông Nguyễn Văn Liễu ở nhờ trong nghĩa địa…”. Hợp đồng có xác nhận của Ủy ban hành chính xã Thái Đô, quận V, TP Hà Nội. Thời gian hợp đồng 5 năm (từ 17/3/1958 đến 17/3/1963).
Trong quá trình sử dụng, gia đình ông Liễu, bà Nguyễn Thị Sen không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng mà phá bỏ cổng nghĩa địa, làm nhiều nhà và sử dụng toàn bộ diện tích đất trong nghĩa địa. Bà Oanh đã cùng các anh chị em của mình làm đơn khởi kiện, yêu cầu ông Liễu trả lại toàn bộ khu nghĩa địa và nhà bia thờ cúng.
Khi vụ án đang giải quyết thì ông Liễu mất, các con ông Liễu tiếp tục làm thêm nhiều nhà ở, nhà để xe lấn sát vào khu mộ. Nay, phía gia đình bà Oanh tiếp tục yêu cầu vợ và các con ông Liễu trả lại nhà thờ, văn bia và một phần đất nằm trong 1.467m2 đất gia đình ông Liễu đang quản lý và đã bán cho một số người khác.
Phía gia đình ông Nguyễn Văn Liễu cũng thừa nhận năm 1958 ông Liễu có ký hợp đồng ở nhờ và trông coi nghĩa địa với bà Oanh. Sau khi gia đình ông Liễu đến ở thì bà Nguyễn Thị Hội báo cho biết là khu nhà đất nghĩa địa này đã được cải cách ruộng đất chia cho bà Hội. Vậy nên ông Liễu đã thỏa thuận đổi cho bà Hội phần đất ông Liễu được chia ở ngoài đồng. Việc đổi đất hai bên có làm giấy xác nhận của Ban chấp hành Nông hội xã Thái Đô ngày 9/10/1959. Ông Liễu đã làm nhà ở, nộp thuế cho Nhà nước, kê khai đứng tên trong sổ địa chính từ năm 1987 đến nay, gia đình bà Oanh không có giấy tờ chứng minh khu đất này là của mình, giấy cho ở nhờ đã hết hạn từ năm 1963.
Năm 1995, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã đưa ra xét xử vụ việc trên, quyết định bác yêu cầu đòi nhà đất, nghĩa địa của gia đình bà Tuyết Oanh, giữ nguyên tình trạng các ngôi mộ, yêu cầu gia đình ông Liễu không được xâm phạm vào mồ mả, không được gây trở ngại đến việc thăm viếng mồ mả của gia đình bà Oanh.
Không đồng ý với quyết định trên, bà Nguyễn Thị Tuyết Oanh đại diện cho các nguyên đơn kháng cáo. Từ năm 1996 đến năm 2006, vụ việc được đưa ra xét xử nhiều lần với nhiều quyết định khác nhau. Đến năm 2006, TAND TP Hà Nội thụ lý lại vụ án.
Nhà thờ và phần diện tích đất được Tòa án tuyên thi hành án cho gia đình bà Nguyễn Thị Tuyết Oanh và các nguyên đơn.
Hơn 2 năm chưa được thi hành án
Bản án dân sự sơ thẩm 60/2010/DSST ngày 28/10/2010 của TAND TP Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu của bà Tuyết Oanh đại diện các nguyên đơn đòi nhà thờ, nhà văn bia và một phần quyền sử dụng đất do gia đình cụ Nguyễn Thị Sen và các con đang quản lý, sử dụng. Bản án buộc cụ Nguyễn Thị Sen cùng các con là bà Nguyễn Thị Lý Lăng, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Gia Lê, Nguyễn Thị Phượng, Nguyễn Tiến Thăng, Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Gia Vỹ, Nguyễn Gia Long phải trả lại cho các nguyên đơn nhà thờ có diện tích 25,1m2, nhà văn bia 14,1m2 và các ngôi mộ nằm trên thửa đất có tổng diện tích 416,96m2. Đồng thời, bản án cũng buộc các gia đình phải thu dọn, dỡ bỏ nhà, vật chất kiến trúc có trên diện tích trên để trả lại cho nguyên đơn. Ngoài ra, các bị đơn còn phải trả lại cho bên nguyên đơn số tiền trên 16 tỷ đồng giá trị quyền sử dụng đất đã bán.
Sau khi gia đình bà Sen có đơn kháng cáo, ngày 29/7 và 1/8/2011, TAND Tối cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa phúc thẩm, xác nhận khu đất nghĩa địa gia đình ông Liễu đang sử dụng hiện có tranh chấp là của gia đình bà Oanh. Giấy đổi đất mà phía bị đơn đưa ra chỉ có xác nhận của Ban chấp hành Nông hội, Ban Kiến điền, Ban Thuế xã chứ không phải là xác nhận của Ủy ban hành chính xã nên không được coi là chứng cứ chứng minh khu đất đang tranh chấp là của gia đình bị đơn. Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn mà giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ngày 3/1/2013, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự (THADS) Hà Nội đã ký quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu căn cứ vào Bản án phúc thẩm của TAND Tối cao và Bản án sơ thẩm của TAND TP Hà Nội. Tuy nhiên, đã hơn 2 năm trôi qua, việc thi hành án vẫn chưa hoàn tất. Ngày 22/11, Cục THADS Hà Nội cho biết, cơ quan THA đang làm các thủ tục để THA. Những người được THA (mà bà Oanh làm đại diện) vẫn đang mong mỏi được nhận lại quyền lợi theo đúng quyết định của Bản án phúc thẩm đã tuyên ngày 1/8/2011. Đề nghị cơ quan THA sớm thực hiện Bản án phúc thẩm số 140/2011/DS-PT để bảo vệ quyền lợi cho công dân