Tại buổi tổng kết, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Lê Xuân Định cho biết, sau 10 năm triển khai, Chương trình đã thực hiện 551 dự án tại toàn bộ 34/34 tỉnh, thành phố; xây dựng 1.426 mô hình ứng dụng KH&CN; chuyển giao 2.354 quy trình công nghệ mới, tiên tiến. Đồng thời, hơn 1.800 cán bộ quản lý, trên 4.000 kỹ thuật viên cơ sở cùng hơn 82.700 lượt nông dân được đào tạo, tập huấn để tiếp nhận và vận hành các mô hình.
Đáng chú ý, các mô hình ứng dụng công nghệ ghi nhận mức tăng giá trị kinh tế trung bình trên 30% so với phương thức sản xuất cũ.
Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định, thành công lớn nhất của Chương trình không chỉ được đo bằng số lượng mô hình hay quy trình công nghệ được chuyển giao, mà nằm ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển địa phương.
Nhìn lại chặng đường gần 10 năm, Chương trình đã mở rộng phạm vi tác động từ hỗ trợ kỹ thuật đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái ứng dụng khoa học công nghệ tại địa phương. Trong đó, liên kết giữa Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - người dân được xem là yếu tố cốt lõi để đưa kết quả nghiên cứu ra thực tiễn sản xuất.
Chia sẻ tại Hội nghị, ông Nguyễn Văn Thủy, Giám đốc Công ty TNHH MTV Minh Dương (Ninh Bình), cho biết dự án ứng dụng công nghệ mới trong trồng, bảo quản và chế biến khoai tây thương phẩm theo mô hình liên kết chuỗi giá trị tại Nam Định được triển khai từ năm 2017 đến năm 2020 với sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nam Định ( cũ). Trước khi triển khai dự án, sản xuất khoai tây tại địa phương còn phân tán, quy mô nhỏ, chất lượng giống thiếu đồng đều và đầu ra phụ thuộc thương lái nên thường xuyên xảy ra tình trạng “được mùa mất giá”.
Thông qua chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp đã xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn VietGAP trên diện tích hơn 150 ha liên kết với các hợp tác xã địa phương, đưa giống khoai tây Solara sạch bệnh vào sản xuất quy mô lớn. Kết quả đạt sản lượng gần 2.960 tấn, năng suất bình quân gần 20 tấn/ha.
Điểm nổi bật của mô hình là phát triển theo chuỗi giá trị thay vì chỉ dừng ở sản xuất nguyên liệu. Hệ thống kho lạnh, kho mát, cấp đông cùng dây chuyền sấy chân không được đầu tư đồng bộ, nâng công suất sơ chế và chế biến lên 5 tấn/ngày. Từ nền tảng công nghệ này, doanh nghiệp phát triển các dòng sản phẩm khoai tây sấy đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế; trong đó sản phẩm khoai tây sấy vị tự nhiên đạt OCOP 4 sao và sản phẩm khoai tây sấy vị phô mai đạt OCOP 5 sao cấp quốc gia. Từ hoạt động từng thua lỗ, đến năm 2025 doanh thu sản phẩm chế biến đã vượt mốc 1 tỷ đồng và tiếp tục tăng trưởng.
Không chỉ tập trung vào cây trồng chủ lực, Chương trình còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực có tiềm năng tại vùng khó khăn. Theo Viện Dược liệu, giai đoạn 2016-2025, đơn vị đã hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho 32 đơn vị tại 23 tỉnh, thành phố với 31 loài dược liệu; đào tạo 278 kỹ thuật viên và tập huấn cho hơn 5.250 lượt nông dân. Nhiều vùng nguyên liệu tập trung từng bước được hình thành, tạo nền tảng cho phát triển chế biến và nâng cao giá trị gia tăng.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, các dự án của Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng đã đưa công nghệ sấy gỗ, sản xuất ván ghép, viên nén sinh học vào thực tiễn, mở hướng tận dụng phụ phẩm và phát triển kinh tế tuần hoàn…
Bên cạnh kết quả tích cực, hội thảo cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều khó khăn trong quá trình triển khai như thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, thủ tục hành chính, năng lực tiếp nhận công nghệ và bài toán duy trì mô hình sau khi kết thúc dự án. Nhiều ý kiến kiến nghị cần tiếp tục duy trì chương trình trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời đổi mới cơ chế hỗ trợ theo hướng tăng cường thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thúc đẩy chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ mở rộng quy mô các mô hình hiệu quả.