20 năm làm lính Cụ Hồ, một đời làm người Việt Nam

20 năm cùng dân tộc Việt Nam làm cuộc trường chinh đánh giặc, trải qua khốn khó trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như tham gia xây dựng cơ sở vật chất chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc, từ người lính Cụ Hồ, trong tận sâu tâm hồn mình, Kostar - Nguyễn Văn Lập nguyện mãi là người Việt Nam.

>> Chuyện một người Hy Lạp trong đội quân lê dương theo Việt Minh

Ở tuổi 19, Kostar - Nguyễn Văn Lập quyết định từ bỏ đội quân lê dương, từ bỏ thành phố để bắt đầu cuộc sống du kích với những con người không cùng chủng tộc, tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa giành độc lập tự do cho Tổ quốc Việt Nam . 20 năm cùng dân tộc Việt Nam làm cuộc trường chinh đánh giặc, trải qua khốn khó trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như tham gia xây dựng cơ sở vật chất chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc, từ người lính Cụ Hồ, trong tận sâu tâm hồn mình, ông nguyện mãi là người Việt Nam.

20 năm thăng trầm cùng đất nước

Tại cuộc tiếp xúc với chúng tôi, ông kể: Sau khi cùng anh Lê Trung Biển gia nhập Việt Minh, những ngày đầu hòa nhập không phải dễ dàng, bởi không dễ để một anh Tây mắt xanh mũi lõ, cựu lính lê dương có được lòng tin của những người cách mạng. Thậm chí, trong 2 ngày chạy trốn trong rừng tìm về đơn vị, Kostar và Lê Trung Biển không dám đi cạnh nhau. Những ngày đầu, không biết một chữ tiếng Việt nên anh Lê Trung Biển cùng một vài cán bộ từ Bắc vào, đều là sinh viên đại học, nói tiếng Pháp rất giỏi, phải thay nhau làm phiên dịch cho ông.

Biết rằng mọi người chưa thể tin tưởng mình ngay, Kostar im lặng làm mọi việc được phân công, im lặng chứng minh bằng tấm lòng trong sạch của mình với cách mạng. Sau khi gia nhập Việt Minh được 1 tháng, ông và một vài cán bộ khác được phân công vào rừng trinh sát, bỗng gặp ổ phục kích của địch. Địch đông, ta ít, không kịp chạy trốn nữa, ông lúc đó không một tấc sắt trong tay (do chưa được tin tưởng giao vũ khí), buộc ông phải nhảy ra đánh lạc hướng giặc, với hi vọng thấy mình là người nước ngoài, chúng sẽ tưởng lính lê dương bị lạc đơn vị. Ông không ngờ rằng, đó chính là đòn "nắn gân" ông, là màn "thử lửa" cuối cùng tấm lòng của ông với một dân tộc mới cách đó 5 tháng còn vô cùng xa lạ. Đó là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng ông bị thử thách để được mọi người gọi bằng 2 tiếng thân thương "đồng đội".

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm đoàn làm phim Cù Chính Lan. Bạch Tuyết (con gái ông Lập) được cố Thủ tướng bế trên tay.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm đoàn làm phim Cù Chính Lan. Bạch Tuyết (con gái ông Lập) được cố Thủ tướng bế trên tay.

Tham gia bộ đội Cụ Hồ, ông được phân công nhiều vị trí khác nhau, lúc thì làm địch vận, lúc thì ở đơn vị pháo cao xạ, lúc lại phụ trách tiểu đoàn thu dũng, quản lý trại tù binh… Ở đâu, ông cũng chiến đấu để xứng với danh xưng "bộ đội Cụ Hồ". Làm địch vận, ông nghĩ ra cách làm chương trình phát thanh, kể câu chuyện của chính mình bằng tiếng Pháp cho những người lính lê dương khác nghe. Từ đó, ông đã thu phục được thêm 40 người lính khác gia nhập Việt Minh, mang theo súng đạn. "Lúc đó súng đạn quý lắm. Mình phải đổi 3 người mới lấy được một khẩu súng" - ông nhớ lại. Bằng cách hàng phục được 40 tên lính Pháp một cách hòa bình, ông đã giữ được mạng sống cho 120 người cách mạng. Ở đơn vị pháo cao xạ, ông cũng cùng đồng đội trở thành một trong những người đầu tiên bắn rơi máy bay, bắt sống được 4 tên giặc lái.

Những năm đó, thấy mấy chiếc tàu của Nhật bị bắt neo ở bến cảng gần Phù Cát, ông và các đồng đội bèn bàn nhau lặn xuống tiếp cận tàu để lấy vũ khí, máy móc. Khổ cái nước thì sâu, mà đồ thợ lặn thì không có, mọi người mới nghĩ ra cách đội mũ cao su, bịt kín cổ lại, chỉ để một lỗ thông hơi, sau đó một người trên bờ bơm hơi, còn người đội mũ lặn xuống. Bằng cách thô sơ đó, họ đã tiếp cận tàu thành công, và lấy được một số súng đạn trên tàu. Sau này gặp lại, Kostar mới biết người bơm hơi cho mình lặn, hóa ra là đồng chí Trương Quang Được - người mà sau này trở thành Phó Chủ tịch Quốc hội.

Ông Nguyễn Văn Lập gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1991.

Ông Nguyễn Văn Lập gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1991.

Đến ngày đình chiến năm 1954, ông được phân công áp giải tù binh trao trả ở Quy Nhơn, sau đó tập kết ra Bắc, bắt đầu tham gia vào công cuộc khôi phục và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các tỉnh miền Bắc. Bắt đầu là những công việc tại Bộ Văn hóa, làm phiên dịch tại Nhà in Tiến Bộ, lái xe ở mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), mỏ than Na Dương (Lạng Sơn), làm phục vụ mặt đất tại sân bay Gia Lâm… Trong thời kỳ này, ông đã vinh dự 3 lần được gặp mặt Bác Hồ. "Lần thứ 4, tôi gặp Người trong Lăng Bác" - Kostar ngậm ngùi.

Năm 1958, ông kết hôn với một cô gái Hà Nội gốc, mồ côi cha mẹ. Họ sinh được 3 người con, đều đặt những cái tên Việt: Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Thị Bạch Nga. "Ngoài công việc chính, cũng có khi tôi được mời đóng phim nữa. Có những phim tôi đóng liền 4 vai, lúc thì là quan hai, lúc thì là lính Pháp, lúc lái xe tăng, lúc làm phi công… như trong phim Cù Chính Lan năm 1964. Tổ chức phân công việc gì tôi làm việc đó. Nghĩ lại cũng vui lắm".

Điều mà khiến ông cảm thấy may mắn là khi đóng bộ phim, ông đã được gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng và chụp một tấm ảnh lưu niệm, trong đó cô con gái Bạch Tuyết của vợ chồng tôi được bác Đồng bế trên tay. Hà Nội thời chiến tranh và bao cấp đã tôi luyện chàng trai người Hy Lạp trở thành một người Việt thực thụ. Tất cả quãng đời sôi nổi nhất của ông, ông đã trải qua ở Việt Nam . Trong thâm tâm ông chưa bao giờ nghĩ đến việc rời đất nước này mặc dù hồi đó rất khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Điều day dứt nhất trong ông, là suốt hơn chục năm phiêu dạt, ông không có được một dòng tin nào về mẹ.

Năm 1954, với chính sách của đất nước đưa tù binh về các nước CNXH khác để từ đó họ trở về cố quốc, ông biết một số người tốt, nhờ gửi thư về nhà cho mẹ. Cuối năm đó, ông nhận được thư trả lời. "Lá thư đó tôi đọc 10 ngày không hết. Cứ giở ra lại khóc". Trong thư mẹ ông nói tưởng ông đã chết, 10 năm nay bà đã mặc áo đen. Bà cũng không quên dặn ông trở về "vuốt mắt cho mẹ". Đáp lại ước nguyện đó của bà, đến năm 1965 ông mới thực hiện được, bằng chuyến hồi hương. Rời "quê ngoại" Việt Nam , nhưng dấu ấn về người Việt trong ông không bao giờ mất.

Bản lĩnh được tôi luyện từ những ngày theo Việt Minh

Chúng tôi hỏi về cuộc sống của ông khi quay trở lại Hy Lạp, ông bảo: "Năm đầu trở về, gia đình tôi gặp bao khó khăn chồng chất". Vì mất quốc tịch Hy Lạp do vắng mặt quá lâu, lại không đi quân dịch nên tôi không thể tìm được việc làm, và cũng không có gì để ăn. Thời gian đó khổ vô cùng, nhưng nhờ những ngày đi theo Việt Minh và bộ đội Cụ Hồ đã đào luyện tôi và gia đình vượt qua". Hồi đó, theo ông kể, ở Hy Lạp người ta không ăn đầu gà, chân gà, ông liền ra nhà hàng xin cái đó về ăn. Không dám nhận mình là người Hy Lạp, ông nói nhặt chân gà về để làm thuốc Bắc cho đỡ xấu hổ. Mỗi ngày 1 bọc chân gà đã nuôi sống gia đình ông trong 1 năm trời.

Và trong 1 năm gian khổ ấy, thêm một người con nữa ra đời với cái tên Tự Do. Theo ông giải thích thì ông chọn cái tên đó đặt cho cô gái út của vợ chồng mình là "Tự Do cho Việt Nam" và cũng là Tự Do cho chính bản thân ông và gia đình. Nhờ người con đó ra đời, ông được xếp vào hạng "đông con" và được miễn quân dịch, mặc dù thay vào đó là đóng một khoản tiền lớn cho chính quyền Hy Lạp. Hồi mới về nước, cả gia đình sống trong căn buồng chục mét vuông của bố mẹ ông để lại, xem ra vẫn chưa cùng cực đến mức đầu đường xó chợ, ông mang nghề lái xe đã được dạy ở Việt Nam ra làm cần câu cơm.

Ngày đầu tiên được công nhận lại là công dân Hy Lạp với một cái bằng lái xe đã được thừa nhận, ông không bao giờ quên được. "Ngày đầu tiên tôi đi làm, cháu Thành chạy vào ôm lấy bố thốt ra một câu tiếng Việt: Bố ơi, hết lo rồi! Hai bố con đều khóc. "Mỗi ngày tôi làm việc thông 2 ca để có tiền nuôi vợ và các con. Cứ thế, cuộc sống dần trôi, cả 4 cháu đều học hết đại học. Tôi vô cùng tự hào. Các con đều được học hành, và học giỏi. Tôi chợt nghĩ đó là nhờ dòng máu Việt Nam chảy trong các cháu". Hiện các con ông đều đã trưởng thành và thành đạt.

20 năm cùng thăng trầm với đất nước đã biến ông thành người Việt Nam thực thụ, từ cả cách ăn nói, đến cách đệm các từ địa phương. Đến các cháu ông, dù sinh ra ở Hy Lạp nhưng cũng đều mang những cái tên Việt. Cháu đầu của ông tên là Phục Sinh, cháu thứ 2 thì tên là Hồ Minh, vì cháu sinh đúng ngày 19-5. Tuy chưa từng được về Việt Nam , nhưng từ ngày còn nhỏ xíu, chỉ cần ông hỏi "Cháu có biết Hồ Minh nghĩa là gì không?", thằng bé ngay lập tức trả lời: "Biết chứ, biết chứ. Chỉ huy, chỉ huy".

Hai ông bà ở nhà nói chuyện với nhau cũng bằng tiếng Việt, ăn đồ ăn cũng là đồ Việt. Ngay các cháu ông cũng thích "ăn cơm bà" chứ không thích "ăn cơm mẹ". Ông vẫn giữ thói quen đọc sách tiếng Việt, từ nào không hiểu thì gạch chân, tiện gặp ai thì hỏi. Ở tuổi ngoài 80, nhưng ông vẫn nhớ mùa xuân năm 1975 mình đã nhảy lên vì quá sung sướng khi nghe tin Việt Nam thống nhất. Ngay cả chiếc mũ cối, đến giờ người Việt cũng ít dùng, nhưng ông thì vẫn kè kè mang theo cả khi đi dự hội nghị quốc tế. Những năm sau này, tuy không còn khỏe, nhưng ông vẫn tham gia Hội Việt kiều tại Hy Lạp, quyên góp giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam .

Cuốn sách "Một người Hy Lạp ở quân đội lê dương, tại sao theo Việt Minh?", sau khi dịch sang tiếng Việt bán lấy tiền để ủng hộ các cháu nghèo mổ tim, cho các cháu da cam chút quà. Những lần trở về Việt Nam , ông càng thấy khỏe hơn, vui hơn, dù tuổi mỗi ngày mỗi cao. Lần này được Nhà nước mời về dự Đại hội Thi đua yêu nước, càng khiến ông cảm động.

Dù ông là người Hy Lạp chính gốc, các cán bộ của Bộ Ngoại giao vẫn gọi ông là Việt kiều. "Vài ngày nữa, tôi sẽ trở thành người Việt Nam "xịn" đấy nhé", ông hồ hởi khoe. Bởi vài ngày nữa, ông sẽ chính thức được Chính phủ trao Quốc tịch Việt Nam

Lưu Vinh - Ngọc Yến - Vũ Hân

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.