Vực thẳm ngân sách - Chuyện chỉ có ở Mỹ!
Dư luận thế giới thời gian qua bị cuốn vào những tin tức thời sự kiểu "nước Mỹ sắp rớt xuống vực thẳm ngân sách" hay sắp va vào vách đá tài chính… Tên gọi khác nhau nhưng thực chất vấn đề là một. Vậy vực thẳm ngân sách hay vách đá tài chính là gì (phía dưới bài xin được sử dụng cụm từ vực thẳm ngân sách)?
Trước khi nói về chuyện quá rắc rối, xin được nhắc rằng một tài khóa ngân sách của Mỹ bắt đầu từ ngày 1/10/2012 qua ngày 30/9/2013. Khi cơ quan nghiên cứu độc lập của Quốc hội là Congressional Budget Office (CBO) công bố dữ kiện sau cùng của "tài khóa 2012" thì đấy là tình hình chi thu ngân sách của nước Mỹ tính đến cuối tháng 9/2013. CBO ít bị chính trị chi phối nên công trình nghiên cứu của họ được coi trọng và thực tế thì có chi phối cách suy nghĩ hoặc vận động của các chính trị gia.
Vực thẳm ngân sách (tiếng Anh gọi là "Fiscal Cliff"). Ðó là một chữ thông tục xuất phát từ lời phát biểu của Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Ben Bernanke, về mối nguy cho kinh tế Mỹ khi (1) những khoản cắt giảm ngân sách và (2) tăng thuế, sẽ tự động được áp dụng kể từ ngày 1/1/2013 nếu hai đảng chính trị ở Mỹ không thỏa thuận được với nhau về ngân sách. Kinh tế Mỹ chưa phục hồi và thất nghiệp vẫn ở gần 8%. Nếu được thực hiện, cả hai khoản (1) và (2) sẽ giúp quốc gia vừa cắt giảm chi tiêu lại vừa có thêm tiền thuế, nhưng đồng thời có thể đưa nước Mỹ trở lại giai đoạn khủng hoảng kinh tế.
Thế thì vì sao lại có biện pháp tai hại này? Mỹ đã chi nhiều hơn thu trong nhiều năm liền nên phải đi vay ngày càng nhiều khiến gánh nặng công trái đã lên tới mức kỷ lục. Mỗi khi chính phủ cần vay tiền thì phải được Quốc hội cho phép đến một định mức tối đa nào đó. Khi đã vay tới mức đó mà cần vay thêm thì phải xin Quốc hội nâng định mức đi vay này, nếu không được vay thì chính phủ thiếu tiền trang trải chi phí và bị tê liệt.
Sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2010, đảng Cộng hòa thắng lớn và kiểm soát Hạ viện với lời hứa giảm dần bội chi ngân sách. Quốc hội khóa 112 vì vậy có Hạ viện bên Cộng hòa và Thượng viện bên Dân chủ. Mâu thuẫn giữa Hạ viện Cộng hòa và Thượng viện cùng hành pháp Dân chủ bắt đầu từ năm 2010 và lên tới cao điểm vào năm 2011. Ðề nghị của Hạ viện Cộng hòa bị Thượng viện Dân chủ chống và ngược lại. Mâu thuẫn ấy kéo dài, trở thành bế tắc chính trị khi cần nâng định mức đi vay vào mùa hè 2011.
Sau nhiều tháng tranh luận và mặc cả mà không xong, hai đảng bèn lập ra một "siêu ủy ban" với 12 đại diện của đôi bên tại hai viện để định ra chỉ tiêu giảm chi trong 10 năm tới nhằm tiến dần đến quân bình ngân sách. Siêu ủy ban này đề ra các biện pháp giảm chi tiêu công và tăng thuế sẽ tự động áp dụng từ đầu năm 2013 nếu đôi bên không đạt được thỏa thuận. Sự dàn xếp đó cho phép Mỹ tiếp tục đi vay thêm. Khi ấy, Mỹ rớt xuống vực thẳm ngân sách.
Tuy nhiên điều này đã không diễn ra vì đến đêm 31/12/2012, lưỡng viện Quốc hội Mỹ đã chấp thuận một đạo luật ngân sách theo đó sẽ trì hoãn việc cắt giảm 110 tỉ USD chi tiêu của chính quyền liên bang trong hai tháng. Các cá nhân kiếm được mỗi năm hơn 400.000 USD hay các gia đình với tổng thu nhập hơn 450.000 USD (tức là nhóm nhà giàu) sẽ phải trả thuế ở mức 39.6% so với con số 35% hiện nay... Đạo luật này lập tức vô hiệu hóa hai biện pháp (1) và (2) của siêu ủy ban trên.
Hậu quả của gánh nợ công quyền
Bây giờ chúng ta mới xét đến tình hình chi thu của nước Mỹ trong mấy năm qua. Theo báo cáo của CBO mới đây, ngân sách Mỹ đã lần lượt thu và chi như sau (tính bằng tỉ USD) dưới thời Tổng thống Barack Obama: năm 2009: thu 2.105, chi 3.518, hụt 1.413; năm 2010: thu 2.163, chi 3.456, hụt 1.297; năm 2011: thu 2.302, chi 3.599, hụt 1.293; năm 2012: thu 2.449, chi 3.528, hụt 1.089.
Nếu so sánh với tổng sản lượng nội địa (GDP) là sức sản xuất của nền kinh tế Mỹ trong một năm, mức bội chi đó lần lượt là 10,1% năm 2009; 9% năm 2010; 8,7% năm 2011; và 7% năm 2012.
Nếu ngân sách liên bang tiếp tục bị thiếu hụt và chính quyền phải đi vay thì sự thể sẽ ra sao? Hậu quả của gánh nợ công quyền là gì? Hậu quả về tiền lời. Theo phúc trình của CBO, nếu gánh nợ này không giảm thì khoản tiền lời đi vay sẽ gây thêm bội chi nên chính quyền lại phải đi vay nữa. Và lãi suất sẽ tăng khi chính quyền đi vay quá nhiều chứ không nằm mãi dưới mức thấp hiện nay. Hậu quả là chính quyền phải tăng thuế, cắt giảm phúc lợi hoặc làm cả hai việc này theo một tỉ trọng nào đó mà đôi bên phải dàn xếp.
Hậu quả về tiết kiệm. Khi cứ đi vay rồi phải trả nợ thì số tiết kiệm của toàn quốc, tư nhân lẫn các doanh nghiệp, sẽ giảm. Mức tiết kiệm giảm sút sẽ đánh sụt khả năng đầu tư cho sản xuất và tăng trưởng, và nâng cao mức vay mượn ở nước ngoài (thuật ngữ kinh tế gọi là "nhập khẩu tiết kiệm của thiên hạ"). Sản xuất suy sụp thì lợi tức giảm trong khi Mỹ bị lệ thuộc nhiều hơn vào các quốc gia chủ nợ hay giới đầu tư nước ngoài. Mức sống và cách sống của nước Mỹ sẽ bị thiệt hại.
Hậu quả về khả năng ứng phó. Khi phải đi vay thì chính quyền mất dần khả năng xoay trở về thuế khóa hay công chi để nhất thời đối phó với những biến cố bất ngờ, như một nạn suy trầm kinh tế, một vụ khủng hoảng tài chính toàn cầu (thí dụ như từ châu Âu hay Nhật, Trung Quốc) hoặc thiên tai hay chiến tranh. Hiện nay, khả năng xoay trở của chính quyền đã bị thu hẹp, ách tắc chính trị là chuyện thường nhật, nếu cứ để bị bội chi và đi vay thì chính quyền có thể bó tay khi hữu sự.
Hậu quả về lãi suất và khủng hoảng ngân sách. Xác suất (là khả năng xảy ra) về một vụ khủng hoảng tài chính vì ngân sách và thuế khóa đang gia tăng. Nếu xảy ra thì giới đầu tư cho vay tiền sẽ không tin vào khả năng giải quyết bài toán ngân sách của chính quyền Mỹ, họ ngần ngại cho vay hoặc chỉ cho vay với phân lời rất cao để phòng ngừa rủi ro. Khi đó, chính quyền lại càng khó xoay trở và phân lời cho vay sẽ đẩy lãi suất lên mức cao hơn nữa, kinh tế sẽ bị khủng hoảng. Không phải là suy trầm (recession) hay suy thoái (depression) mà khủng hoảng (crisis).
CBO nêu ra ba đường hướng thay đổi chính sách chi thu công để điều chỉnh vấn nạn vừa qua của ngân sách. Thứ nhất là phải chấp nhận cắt giảm phúc lợi khi tiến dần đến tuổi già chứ không thể duy trì hiện trạng được. Nếu không, phải tiết giảm một số hoạt động và gánh nặng của chính quyền liên bang so sánh với kích thước của nền kinh tế. Sau cùng, chỉ còn giải pháp tăng thu thuế khóa một cách đáng kể so sánh với mức trung bình của lịch sử.
Ðáng chú ý nhất là một kết luận của CBO: Nếu áp dụng biện pháp cắt giảm chi công và tăng thuế như siêu ủy ban ngân sách đề nghị, tức là dám lao xuống vực thẳm ngân sách, kinh tế có thể bị suy giảm trong năm tới nhưng sau đó Mỹ sẽ có nền móng tài chính lành mạnh hơn.
Vực thẳm tài chính vẫn còn đó!
Phát biểu tại Nhà Trắng hôm 2/1/2013, Tổng thống Obama nói: "Nhờ vào việc bỏ phiếu của các dân biểu Dân chủ và Cộng hòa Hạ viện Mỹ, nước Mỹ tránh khỏi các rối ren bất ổn về kinh tế, có ảnh hưởng không chỉ ở Mỹ mà còn lan ra nhiều nơi trên thế giới".
Sau 17 tháng tranh luận và 17 tiếng cãi lộn vào cuối năm cho đến đầu năm mới, giới lãnh đạo Mỹ đã tránh được một vực thẳm ngân sách cho kinh tế và thường dân. Ðấy là những gì truyền thông loan tải. Sự thật lại không sáng láng như vậy. Giới lãnh đạo Mỹ đã bắt tay nhau để tạm thời đồng ý là sẽ tăng thuế (chỉ với giới nhà giàu), và không giảm chi mà còn tăng chi.
Ngay hôm đầu năm 2013, CBO đã dự báo là thuế sẽ tăng đồng loạt, thêm 400 tỉ USD trong 10 năm tới. Nhà giàu mà bị thuế cao hơn thì sẽ dồn gánh thuế đó cho giới tiêu thụ hoặc sẽ chậm tuyển thêm người, làm sản xuất khó tăng mà thất nghiệp không giảm.
Còn tăng chi thì có nghĩa là sẽ đi vay sau này. Vay ai? Vay nhà đầu tư, những kẻ có tiền ở tại Mỹ và trên thế giới. Nhà đầu tư ấy có thể là doanh nghiệp hay giới tiết kiệm cò con hoặc các quỹ đầu tư…
Với quyết định tạm thời và cục bộ của Quốc hội Mỹ, tình hình chi thu của Mỹ sẽ ra sao? Câu trả lời là rất ảm đạm và vực thẳm tài chính của nước Mỹ vẫn còn đó.
Trước hết, giới lãnh đạo Mỹ chưa dám đụng vào hồ sơ nhạy cảm và tế nhị nhất là các khoản chi bắt buộc trong ngân sách liên bang, gọi là "entitlements". Các khoản chi đó bị gọi là "điện giật" hay "phỏng tay" vì sờ vào là thất cử. Trong số này có hai quỹ An sinh xã hội và Bảo dưỡng y tế (Medicare), chắc chắn là sẽ phá sản nếu không có biện pháp giảm chi và tăng thu. Lý do là người góp tiền cho quỹ thì ít hơn, người hưởng thì nhiều hơn với chi phí cao hơn nhờ tuổi thọ kéo dài hơn xưa. Ðó là thực tế kinh tế tài chính của nạn lão hóa dân số.
Chuyện thứ hai, kết quả của trận đấu về ngân sách vừa qua vẫn chỉ là trì hoãn chiến vì không đụng vào một vấn đề khác là giảm chi. Mỹ không thể chi nhiều hơn thu và trong khi dân chúng phải thắt lưng buộc bụng và giảm chi để trả nợ, chính quyền tiếp tục tăng chi và lại đi vay. Nếu tiếp tục vay mượn theo cái đà của mấy năm qua thì số nợ của công quyền từ 10.000 tỉ USD năm 2009 đã tăng lên thành 16.000 tỉ trong năm nay sẽ còn tăng thêm 10.000 tỉ trong 10 năm tới. Một năm, cả nước Mỹ sản xuất ra hơn 15.000 tỉ USD, nếu gánh nợ của chính quyền lại lên tới 16.000 tỉ và còn tăng thì ai sẽ trả?
Thị trường cổ phiếu Mỹ đã tăng giá hơn 2% trong ngày mở bát đầu tiên của năm 2013 nhờ quyết định giờ chót của Quốc hội. Nhưng quyết định ấy vẫn chỉ đánh bùn sang ao, hoặc câu giờ, chứ chưa giải quyết nhiều vấn đề chi thu sinh tử của nước Mỹ.
Trong khi đó, hoàn cảnh kinh tế sẽ không tốt đẹp như trước đây và tốc độ tăng trưởng sản xuất khó đạt được mức 2% một năm mà có thể sẽ thấp hơn và lâu hơn. Khi mà giới chính trị không giải quyết nổi các vấn đề, người dân sẽ phải xoay trở theo cách khác mà không quên rằng gánh nợ thuế khóa sẽ tăng - cho mọi người chứ không chỉ cho giới nhà giàu