Bộ Quốc phòng Israel vừa cho biết, tổng số tiền thu được cho quốc gia Do Thái này nhờ xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự trong năm 2010 là 7,2 tỉ USD. Như vậy "miền đất hứa" chỉ đứng sau Mỹ, Nga và Đức về xuất khẩu "hàng nóng" trong năm qua. Các chuyên gia cũng cho rằng, trong thời gian tới, danh sách nhóm 4 đại gia xuất khẩu "hàng nóng" này sẽ còn thay đổi nữa vì hiện giờ Trung Quốc cũng đang tăng tốc khá nhanh trong lĩnh vực này.
Năm đột biến
Các nhà máy trong ngành công nghiệp quốc phòng của quốc gia Do Thái trong năm qua đã bán được 9,6 tỉ USD vũ khí khí tài. Các lực lượng vũ trang của Israel đã tiêu thụ được 2,4 tỉ USD hàng nóng, còn lại là dành cho các khách mua ngoại quốc.
Năm 2010, cũng như 6 năm trước đó, đều là thời điểm lập kỷ lục của công nghiệp quốc phòng Israel về các hợp đồng xuất khẩu vũ khí, giúp nước này ngày càng củng cố vị trí của họ vững chắc hơn trên thị trường quốc tế. Khoảng 80% lượng vũ khí khí tài do Israel sản xuất mỗi năm được dành cho xuất khẩu.
Năm 2005, xuất khẩu vũ khí khí tài của Israel ra nước ngoài ở mức 3,5 tỉ USD. Năm 2006, con số này là 4,9 tỉ USD. Năm 2007: 5,6 tỉ; năm 2008: 6,6 tỉ và năm 2009: 6,9 tỉ USD. Một điều cần chú ý là, theo đánh giá của Tổ chức phân tích độc lập Forecast International, tốc độ gia tăng của xuất khẩu vũ khí khí tài từ Israel trong hai năm gần đây thậm chí còn cao hơn các số liệu do Bộ Quốc phòng nước này công bố.
Forecast International cho rằng, năm 2009, Israel đã ký các hợp đồng xuất khẩu vũ khí khí tài trị giá 7,4 tỉ USD, còn năm 2010: 7,6 tỉ USD. Những loại vũ khí khí tài chính mà quốc gia Do Thái bán cho các bạn hàng ngoại quốc là những máy bay không người lái, các hệ thống vũ khí, kể cả những môđun điều khiển từ xa, các loại radar, các bộ cảm biến cũng như hàng loạt những dịch vụ về chuyển đổi tính năng các loại máy bay.
Một phần nhỏ trong các loại vũ khí xuất khẩu của Israel là những máy bay chiến đấu, kể cả loại tiêm kích nhiều chức năng IAI Kfir. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), ăn khách nhất trong các sản phẩm quân sự của Israel trên thị trường thế giới là các loại radar và các bộ cảm biến, các loại tên lửa khác nhau và khí tài hàng không…
Israel dự định trong những năm sắp tới sẽ gia tăng chủng loại vũ khí khí tài dành cho xuất khẩu. Cuối năm 2010, Bộ Quốc phòng nước này đã quyết định bắt đầu cho xuất khẩu loại xe tăng chiến đấu Merkava Mark IV, các loại xe sửa chữa sơ tán bọc thép Merkava ARV Nemmera và các loại xe vận tải bọc thép Merkava IFV Namer. Ngoài ra, Israel cũng dự định sẽ xuất khẩu các hệ thống phòng không chống tên lửa Iron Dome và Arrow…
Cũng có cách thống kê khác về lượng vũ khí khí tài xuất khẩu của Israel. Theo thống kê mới nhất của SIPRI, tổng giá trị xuất khẩu vũ khí của Israel năm qua đã ở mức 472 triệu USD tính theo tỉ giá năm 1990 (tương đương với 787,47 triệu USD tính theo tỉ giá 2010).
Cũng theo SIPRI, tổng lượng xuất khẩu vũ khí khí tài từ "miền đất hứa" năm 2011 đã giảm gần một nửa so với năm 2009, tương đương 335 triệu USD. Sự suy giảm này, theo lý giải của SIPRI, liên quan tới những bất ổn gia tăng ở khu vực Trung Đông, cũng như những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu.
Theo SIPRI, năm 2010, Israel đã cung cấp các bộ cảm biến và các hệ thống radar (camera cực tím, các hệ thống theo dõi, các trạm radar với các kết cấu khác nhau…) cho các hàng nước ngoài ở mức 161 triệu USD. Tiền thu được từ bán tên lửa là 124 triệu USD. 96 triệu USD - đó là thu nhập của Israel nhờ xuất khẩu các máy bay không người lái cũng như các dịch vụ chuyển đổi tính năng máy bay…
Theo website lenta.ru. sự chênh lệch rất lớn trong các số liệu của SIPRI của Bộ Quốc phòng Israel về số tiền thu được nhờ xuất khẩu vũ khí của nước này là vì SIPRI chỉ tính đến lượng vũ khí đã được xuất đi, còn Bộ Quốc phòng Israel tiến hành thống kê trên cơ sở những hợp đồng mua bán vũ khí khí tài đã được ký kết.
Thí dụ trong năm 2010 đã có thông báo về việc ký hợp đồng giữa LB Nga với Israel liên quan tới cung cấp tổng bộ linh kiện lắp ráp các máy bay không người lái trị giá 300 triệu USD. Chỉ riêng số tiền này đã lớn hơn toàn bộ tổng số tiền mà SIPRI thống kê. Ngoài ra, cũng trong năm 2010, Israel đã bán cho Columbia ba máy bay tiêm kích mới IAI Kfir.
Giá trung bình của mỗi một chiếc máy bay loại này là từ 5 tới 5,5 triệu USD. Điều đó có nghĩa là bản hợp đồng xuất khẩu máy bay tiêm kích trên trị giá từ 15 tới 16,5 triệu USD. Ngoài ra, Israel còn ký được một loạt những thỏa thuận với Ấn Độ, Pháp, Mỹ và Nga về việc cung cấp cho các nước này các bộ cảm biến, radar, tên lửa, máy bay không người lái và các dịch vụ về hiện đại hóa các loại khí tài bọc thép…
Cách đây không lâu, một số phương tiện thông tin đại chúng Israel, dựa trên tư liệu của đại diện ngành công nghiệp quốc phòng nước này, đã viết rằng, trong vài ba năm tới, tổng lượng xuất khẩu vũ khí khí tài của Israel sẽ suy giảm.
Có nhiều lý do dẫn tới việc đó, thí dụ như mối quan hệ giữa Israel với Thổ Nhĩ Kỳ, một trong những bạn hàng lớn nhất của quốc gia Do Thái, hiện đang trong tình trạng ngày một xấu đi… Lý do khác là các nước châu Âu trong tình cảnh túng thiếu ngân sách nhà nước buộc phải cắt giảm bớt chi phí quốc phòng.
Trong tương lai gần, các vụ xuất khẩu vũ khí khí tài từ Israel sẽ chủ yếu được thực hiện với những khách hàng như Ấn Độ và các nước Bắc Mỹ, những bạn hàng lớn nhất của ngành công nghiệp quốc phòng ở "miền đất hứa".
Chỗ đứng dưới mặt trời
Cũng theo SIPRI, Washington vẫn là nhà xuất khẩu chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường hàng nóng quốc tế. Năm 2009, thị phần của nước này đã là 30%. Moskva năm 2009 chỉ chiếm được 24% và đứng ở vị trí thứ hai. Vị trí thứ ba thuộc về Berlin với 11%. Paris ở vị trí thứ tư với 8%, còn London ở vị trí thứ 5 với 4%.
Trong năm qua, quốc gia gặt hái được nhiều nhất nhờ xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự ra thị trường quốc tế vẫn tiếp tục là Mỹ. Washington đã thu được 31,6 tỉ USD nhờ xuất khẩu hàng nóng. So với năm 2009, chỉ số này đã bị giảm 6,5 tỉ USD. Vị trí thứ hai trong danh sách các đại gia xuất khẩu hàng nóng năm qua thuộc về Nga với 10 tỉ USD.
Một năm trước đó Moskva chỉ xuất khẩu được 8,8 tỉ USD vũ khí khí tài quân sự. Nước Đức được coi là quốc gia đứng thứ ba về xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự. Mặc dù những số liệu chính thức của năm 2010 chưa được Berlin công bố, nhưng Bộ Thương mại Đức cho biết, năm qua, nước này đã xuất khẩu được 5,8 tỉ euro hàng nóng (tương đương với 8,7 tỉ USD).
Theo đánh giá của SIPRI, trong 5 năm gần đây, bộ ngũ trong làng xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự được sắp đặt như sau: Mỹ, Nga, Đức, Pháp và Anh. Hai quốc gia Pháp và Anh cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa đưa ra những số liệu thống kê chính thức về xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự.
Tuy nhiên, theo số liệu của Bộ Quốc phòng Pháp, xuất khẩu hàng nóng của nước này trong năm 2009 đã là 8,16 tỉ euro (12,24 tỉ USD), "Hòn đảo sương mù" trong năm 2009 cũng đã bán ra nước ngoài được 7,2 tỉ bảng Anh (11 tỉ USD).
Như vậy là bộ ngũ chủ đạo trên thị trường hàng nóng quốc tế ở thời điểm hai năm trước được sắp xếp như sau: Mỹ, Pháp, Anh, Nga và Đức. Nếu lưu ý tới sự gia tăng không đáng kể những vụ xuất khẩu vũ khí khí tài quân sự của nước này trong năm 2010, rất khó tin vào việc năm vừa qua, Israel đã vươn lên được vị trí thứ tư, vượt qua vị trí tứ 8 của mình trong năm 2009, sau Trung Quốc (1 tỉ USD) và Tây Ban Nha (998 triệu USD) . Nói chung, trong tương lai, vị trí của các quốc gia trên có thể sẽ bị thay đổi…
Trong những năm gầy đây, theo website lenta.ru, Bắc Kinh đang ngày càng tạo dựng được vị trí nổi bật hơn trên thị trường hàng nóng quốc tế với những mẫu vũ khí được sản xuất trên cơ sở cải tiến các loại vũ khí làm theo mô hình của Liên Xô trước kia và nước Nga hiện nay với giá rất cạnh tranh. Trung Quốc hiện đã chào hàng ra nước ngoài các hệ thống tên lửa phòng không, các hệ thống pháo, các loại máy bay khác nhau và khí tài bọc thép. Trong số này có máy bay tiêm kích FC-1, J-10, J-11; máy bay vận tải Y-8; máy bay huấn luyện K-8; loại xe bọc thép ZBL-09 cũng như hệ thống tên lửa SY-400, BP-12A và HQ-16.
Những nỗ lực của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc cũng mang lại những kết quả bước đầu. Nếu năm 2009, theo SIPRI, Bắc Kinh chỉ được xếp ở vị trí thứ 6 trong danh sách các đại gia xuất khẩu hàng nóng thì tới năm 2010, nước này đã vươn lên vị trí thứ 5 với số tiền thu được là 1,4 tỉ USD.
Trong khi đó London đã bị loại khỏi top 5 và rơi xuống vị trí thứ 6. Và các chuyên gia cho rằng, trong thực tế tổng lượng xuất khẩu hàng nóng của Trung Quốc có thể cao hơn vài ba lần so với những con số trên.
Như vậy là, trong tương lai gần, top 5 đại gia xuất khẩu hàng nóng trên thế giới có thể phải thay đổi đáng kể. Có lẽ chỉ Washington mới đủ tự tin để giữ vị trí quán quân, còn các nước khác nếu không cố gắng thì có thể sẽ bị rớt hạng