Vùng đất này không chỉ là nơi đã gieo mầm thiện cho hàng vạn đối tượng lầm lỗi sớm hoàn lương, trở về với đời sống bình thường, mà còn là nơi cưu mang, giúp đỡ cho hàng chục người lấy nơi đây làm quê hương thứ hai của mình để làm lại cuộc đời. Vậy điều gì đã biến cái xã miền núi hẻo lánh này thành mảnh đất lành cho hàng chục cánh chim lang bạt đậu lại gây dựng tổ ấm?
Những cánh chim lang bạt
Chúng tôi về Xuân Phước vào một buổi sáng cuối năm, tiết trời dịu mát, hai bên đường là những mái ngói đỏ tươi thấp thoáng trong những rặng cây, cánh đồng xanh mướt trải rộng mênh mông giữa vùng đồi núi nhấp nhô gợi một cảm giác yên bình.
Theo chân Phó Chủ tịch Mặt trận xã Lê Thanh Hội, chúng tôi đến thăm gia đình anh Nguyễn Văn Tư ở thôn Phú Xuân A. Đó là một ngôi nhà ngói, cửa sắt, rộng rãi và chắc chắn, vừa là nơi sinh sống vừa là cửa hàng tạp hóa, nguồn thu nhập quan trọng của gia đình anh.
Anh Tư quê ở Tiền Giang, trong thời gian ở Trại, do phấn đấu tốt nên được lãnh đạo tin cậy giao cho việc lái xe, nhờ vậy mà anh có điều kiện làm quen với chị Hồ Thị Bích Phương là người địa phương, vợ anh bây giờ.
Anh kể: “Năm 1990 mãn hạn, tui muốn ở lại Xuân Phước làm ăn sinh sống, nhưng ngặt nỗi hồi đó quy định không cho phép ở lại, tui phải đến gặp giám thị Trại là ông Trần Ngọc Bôi, nay đã nghỉ hưu nhờ ông đứng ra bảo lãnh, nên chính quyền xã đồng ý cho phép tui được nhập khẩu ở lại sinh sống, rồi kết hôn với vợ tui vào năm 1992. Sau này, dù tôi đã ra Trại, nhưng ông giám thị mới là Phạm Xuân Thủy và các cán bộ Trại vẫn rất quan tâm, hướng dẫn, tạo điều kiện cho vợ chồng tui làm ăn”.
Về những ngày mới bắt đầu lập nghiệp, chị Phương cho biết, lúc mới kết hôn với anh Tư, chị gặp bao điều khó khăn, hai vợ chồng chỉ có hai bàn tay trắng, đó là chưa kể cũng có đôi lời bàn ra tán vô. Nhưng hai người thương nhau, đã hẹn ước với nhau từ hồi anh Tư còn ở trong Trại, chị vẫn quyết kết hôn với anh Tư.
Thời gian đầu, anh chị ở cùng với mẹ chị Phương, cha chị là liệt sĩ hy sinh thời kháng chiến chống Mỹ. Những năm đó, đời sống nhân dân trong thôn còn khó khăn lắm, vốn liếng hai vợ chồng chỉ vẻn vẹn có năm chỉ vàng. Khi mẹ chị Phương xây lại ngôi nhà, vợ chồng chị cũng chẳng giúp mẹ được đồng nào, chỉ giúp ngày công.
Đôi vợ chồng trẻ được giao 1 ha trồng mía, một ít đất ruộng làm lúa và đất soi trồng bắp để chăn nuôi heo bò. Lúa trồng một năm hai vụ cũng chỉ đủ ăn, đất trồng mía và trồng bắp cũng chỉ kiếm được chút ít. Khi con cái bắt đầu lớn, chi phí nhiều hơn, không thể cứ trông chờ vào ruộng rẫy, anh chị quyết định phải buôn bán thêm.
Lúc bắt đầu làm nhà, vợ chồng chỉ có ít tiền dành dụm, phải mượn thêm ông cậu 1 cây vàng cùng 10 triệu đồng và một cán bộ Trại cũng thương tình cho mượn thêm 2 cây vàng nữa. Mua đất, cất được ngôi nhà gần cổng Trại, hai vợ chồng cắm đầu cắm cổ làm ăn để lo trả nợ.
Cũng may là các anh lãnh đạo Trại thương tình, tin tưởng giao cho việc cung cấp nhu yếu phẩm, còn các đoàn thể ở xã thì tín chấp để vay vốn ưu đãi. Nhờ đó mà sau một thời gian chí thú làm ăn, hai vợ chồng đã trả hết nợ, gả chồng cho con gái, chu cấp cho con trai học Đại học Quy Nhơn.
Anh Đỗ Như Hưng quê ở Hải Dương, có lẽ là cánh chim xa nhất dừng lại nơi đất này. Sau khi mãn hạn, thấy chặng đường về quê diệu vợi, cách trở, trong khi ở đây, tỉnh kết nghĩa tình người nồng ấm, lại có người thương yêu nên anh Hưng quyết định ở lại và kết hôn với chị Ngô Thị Điều ở thôn Phú Xuân B.
Bí thư xã Đoàn là người cùng thôn với anh Hưng, khi nghe chúng tôi ngỏ lời muốn đến thăm nhà anh Hưng liền sốt sắng đưa chúng tôi đi. Lúc đến nơi, anh Hưng đang lái xe đi chở sắn, các con đi học, ở nhà chỉ có chị Điều, một phụ nữ vóc dáng khỏe mạnh, nước da bánh mật, khuôn mặt chân chất, giản dị mang dáng vẻ đặc trưng của một phụ nữ miền Trung. Ngôi nhà ngói rộng gần tám chục mét vuông, lát gạch men láng bóng, dàn cửa toàn bằng gỗ tốt nhưng đôi chỗ vẫn còn chưa hoàn thiện.
Chị cho biết, hồi đầu, anh chị cũng sống chung với cha mẹ chị. Sau một thời gian, thấy hai vợ chồng chí thú làm ăn, thương yêu nhau, nên cha mẹ chị cho mảnh đất này, anh chị xây được ngôi nhà gần 3 năm rồi, nhưng chưa hoàn thiện vì phải để tiền đầu tư làm ăn. Hai vợ chồng sống chủ yếu nhờ 6ha sắn, mía và đất rừng...
Ở thôn Phú Xuân A, gia đình anh Nguyễn Hữu Bằng quê ở Bình Kiến thành phố Tuy Hòa được nhiều người biết vì cả ba con đều học hành giỏi giang. Ra đón chúng tôi là hai đứa trẻ, một gái, một trai, vóc dáng khỏe mạnh, nước da ngăm ngăm và điều đặc biệt là khuôn mặt khá thông minh, lanh lợi. Đó là hai chị em sinh đôi Nguyễn Huỳnh Phượng và Nguyễn Huỳnh Minh.
Chị em sinh đôi Nguyễn Huỳnh Phượng, Nguyễn Huỳnh Minh (con anh Nguyễn Hữu Bằng) đều là học sinh giỏi và ông ngoại.
Nhìn thấy trên tường dán đầy giấy khen, cháu Minh cho biết đó là của chị cả Huỳnh Thị Thanh Hương đang học Đại học Ngoại thương TP Hồ Chí Minh. Thế còn các cháu? Cháu Minh lục trong tủ ra khoe với chúng tôi chiếc Huy chương Đồng học sinh giỏi cấp tỉnh. Hóa ra, cả hai chị em Phượng - Minh đều là học sinh giỏi cấp huyện từ lớp 1 đến lớp 6, hiện đang học lớp 7. Năm lớp 5, hai chị em đều được cử đi thi học sinh giỏi cấp huyện. Cậu em đạt giải nhất Văn - Toán cấp huyện, rồi được cử đi thi toán cấp tỉnh và đạt Huy chương Đồng.
Tình người nơi đất lành
Xuân Phước có tất cả 28 người vốn là phạm nhân mãn hạn ở lại lập nghiệp, gồm đủ các thành phần, dân tộc, lứa tuổi, từ khắp mọi miền của đất nước, và tất cả đều lấy vợ là người địa phương. Người ở lại sớm nhất là vào năm 1990, còn gần đây nhất là vào năm 2007, sinh sống chủ yếu ở các thôn Phú Xuân A (12 người), Phú Xuân B (10), Phú Hội (5), Phước Hòa (1).
Về những con người có số phận đặc biệt này, ông Võ Văn Trí, Chủ tịch UBND xã nhận xét: “Những người ở lại lập nghiệp, được người dân địa phương và chính quyền tạo mọi điều kiện để họ làm ăn sinh sống. Phần lớn trong số họ đều có học nên biết cách làm ăn, thu nhập thuộc loại khá so mới mức sống trung bình của bà con trong xã. Tất cả đều chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia đóng góp xây dựng địa phương, không ai có dấu hiệu tái phạm hay vi phạm.
Riêng đối những người lớn tuổi hoặc người dân tộc thiểu số thì tùy thuộc vào hoàn cảnh từng người mà chúng tôi có biện pháp giúp đỡ cụ thể. Như trường hợp ông Y Rớt, nguyên là sĩ quan của tổ chức phản động ở Đắk Lắk. Sau khi mãn hạn cũng có nguyện vọng ở lại và kết hôn với người địa phương, nhưng do khả năng làm ăn không bằng người Kinh, kinh tế gia đình khó khăn hơn. Chính quyền đã xem xét xây cho gia đình ông ngôi nhà trong chương trình xóa nhà tạm của địa phương”.
Trong cuộc đời, ai mà chẳng có những phút giây yếu lòng, lầm lỡ. Điều quan trọng là phải biết dừng lại trước giới hạn của luật pháp và đạo đức, nhưng điều quan trọng hơn là sau khi vấp ngã phải có đủ bản lĩnh để đứng dậy làm lại cuộc đời. Gần ba chục con người sau khi mãn hạn cải tạo đã được nhân dân và lãnh đạo địa phương, lãnh đạo Trại A20 đùm bọc, cưu mang, không chút kỳ thị, ghét bỏ, giúp họ tìm lại được chính mình trên mảnh đất lành này.
Khi đến gặp những người vốn đã có một thời lầm lỡ, thật lòng mà nói chúng tôi cũng cảm thấy đôi chút ngại ngần. Vậy mà lúc chia tay, cái cảm giác ấy dường như đã biến mất, nhường chỗ cho một niềm tin về sức mạnh bất diệt của lòng nhân ái đã làm nên những điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời này