Vấn nạn tranh giả - tranh nhái: Vì đâu nên nỗi?

Thực tế, gần đây khá nhiều tranh giả được bày bán công khai trên phố, trong một số gallery, trên một số trang web, hay được đưa vào triển lãm, trưng bày trong bảo tàng, đưa lên sàn đấu giá... Mức độ dày đặc đến nỗi nhiều người nước ngoài có cảm giác "Không thể hiểu nổi" nhưng ở Việt Nam dường như lại trở thành "chuyện thường ngày"...

Tranh giả Việt: Tiếng dữ đồn xa

Hà Anh

Trung tuần tháng 3 vừa qua, một số họa sĩ nổi tiếng đồng thời cũng là những họa sĩ thường xuyên bị làm giả, làm nhái tranh như Thành Chương, Đặng Tiến, Phan Cẩm Thượng, Phạm An Hải, Đào Hải Phong... đã có cuộc gặp gỡ với báo chí để lên tiếng về vấn nạn tranh giả, tranh nhái đang hoành hành ngày một ngang nhiên tại thị trường mỹ thuật Việt Nam.

Không còn là chuyện bị vi phạm đơn lẻ, việc có quá nhiều họa sĩ bị làm giả, làm nhái tranh đã khiến các họa sĩ phải đồng lòng lên tiếng. Và trong cuộc gặp gỡ này, bên cạnh những ý kiến le lói hi vọng về một nền mỹ thuật minh bạch nếu có sự chung tay của cả xã hội thì vẫn có những ý kiến đầy bất mãn, bi quan trước tình trạng gia tăng tranh giả, tranh nhái mà đến nay chưa tìm thấy biện pháp ngăn chặn nào có hiệu quả.

Tháng 4 - 2017, khi một bức tranh của cố họa sĩ Lê Phổ (từng nhiều năm sống tại Pháp) cán mốc 1,2 triệu USD tại một sàn đấu giá ở Hồng Kông đã khiến giới mỹ thuật thế giới phải ngạc nhiên. Trước đó, dù vẫn được đánh giá khá cao trong giới mỹ thuật Đông Nam Á, nhưng chưa có tranh của họa sĩ Việt thiết lập được kỷ lục này. Đồng thời với "tiếng lành", "tiếng dữ" về vấn nạn tranh giả tranh nhái cũng được đồn xa không kém.

Họa sĩ Thành Chương bày tỏ nỗi bức xúc về vấn nạn tranh giả trong buổi nhóm các họa sĩ gặp gỡ báo chí.
Họa sĩ Thành Chương bày tỏ nỗi bức xúc về vấn nạn tranh giả trong buổi nhóm các họa sĩ gặp gỡ báo chí.

Và sự việc tranh của họa sĩ Thành Chương bị mạo danh thành tranh Tạ Tỵ trong triển lãm "Những bức tranh trở về từ châu Âu" chính là nguyên cớ để nhà báo Mỹ Richard C. Paddock tìm hiểu và viết một bài gây chú ý trên tờ The New York Times ngày 11-8-2017 có tựa đề: "Vietnamese Art Has Never Been More Popular. But the Market Is Full of Fakes", tạm dịch là "Tranh Việt Nam đang nổi tiếng hơn bao giờ hết. Nhưng thị trường lại ngập tràn tranh giả". Bài viết này đã thực sự "đánh động" các nhà sưu tầm tranh, giới họa sĩ Việt cũng như những người quan tâm đến mỹ thuật nước nhà.

Nhiều người cho rằng, hiệu ứng của bài báo mạnh đến nỗi, bất cứ một nhà sưu tầm nào trên thế giới đã từng hoặc đang có ý định mua tranh của Việt Nam đều phải nghi ngại. Uy tín của mỹ thuật Việt Nam thực sự đã sụt giảm rất nhiều trong con mắt người nước ngoài.

Thực tế, gần đây khá nhiều tranh giả được bày bán công khai trên phố, trong một số gallery, trên một số trang web, hay được đưa vào triển lãm, trưng bày trong bảo tàng, đưa lên sàn đấu giá... Mức độ dày đặc đến nỗi nhiều người nước ngoài có cảm giác "Không thể hiểu nổi" nhưng ở Việt Nam dường như lại trở thành "chuyện thường ngày".

Một số họa sĩ cho rằng, họ cảm thấy "bơ vơ", cảm thấy bị bỏ rơi và phải một mình chiến đấu với vấn nạn tranh giả mà không nhận được sự trợ giúp từ các nhà chức trách hay sự ủng hộ của công chúng. Đặc biệt là sau sự việc triển lãm "Những bức tranh trở về từ châu Âu" được cho là toàn tranh giả nhưng không bị xử lý thích đáng đã khiến không ít người nản lòng.

Có rất nhiều lý do dẫn đến việc mỹ thuật Việt Nam có một gương mặt "lọ lem" như hôm nay, và câu chuyện này sẽ còn dai dẳng. Nhưng suy đến cùng, bên cạnh việc cần một hành lang pháp lý đủ mạnh, bên cạnh việc nâng cao hiểu biết, giáo dục thẩm mĩ cho công chúng, chính các họa sĩ cũng phải thiết lập cho mình những thói quen văn minh trong quá trình sáng tạo cũng như đối mặt với những hành vi vi phạm bản quyền. Cần có một sự thay đổi mạnh mẽ bắt đầu từ ý thức mỗi cá nhân để cùng chung tay vì một sự lành mạnh, minh bạch và phát triển của nền mỹ thuật Việt như chính các họa sĩ từng bày tỏ. Bởi nếu ai cũng chỉ nghĩ việc của riêng mình, thì việc tranh Việt rớt giá có lẽ cũng sẽ chẳng phải là việc gì quá xa vời...

Nhà nghiên cứu mỹ thuật, TS. Phạm Long: Thị trường mỹ thuật Việt nhiều lộn xộn

Nguyệt Hà (thực hiện)

- Thưa nhà nghiên cứu mỹ thuật, TS Phạm Long, sau buổi gặp gỡ của một số họa sĩ với giới báo chí để lên tiếng về vấn nạn tranh giả - tranh nhái, có một số ý kiến cho rằng, thay vì chỉ "kêu than" ở trên báo chí, tại sao các họa sĩ không chọn cách khởi kiện ra tòa đối với các trường hợp đã "bắt tận tay", có bằng chứng cụ thể về những hành vi vi phạm. Quan điểm của anh về vấn đề này như thế nào?.

+ Thực ra, việc khởi kiện thì ai cũng nghĩ đến đầu tiên. Nhưng nói chung tâm lý người Việt rất ngại động chạm đến pháp luật vì nó mất thời gian, thậm chí cả tiền bạc nữa mà nhiều khi không đem lại kết quả. Ví dụ như vụ việc liên quan đến họa sĩ Thành Chương trong triển lãm "Những bức tranh trở về từ châu Âu", họa sĩ Thành Chương đã có động thái khởi kiện, gửi đơn đến các cơ quan có chức năng mà không có phản hồi gì, rồi Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Cục Mỹ thuật - Nhiếp ảnh cũng đã vào tận nơi, nhưng cũng chẳng đến đâu. Với tâm lý ấy và với "tấm gương" đã có, các họa sĩ khác sẽ cảm thấy rất khó có được kết quả cuối cùng bằng biện pháp khởi kiện.

Việc theo kiện, đòi hỏi hệ thống hành pháp, lập pháp của mình phải rất mạnh, có hiệu lực, hiệu quả thì người ta mới tin tưởng. Nhưng vừa qua, trong cuộc gặp gỡ giữa các họa sĩ, nhiều người vẫn đề cập đến biện pháp này khi bị động chạm đến quyền lợi, chắc chắn họ vẫn sẽ tiếp tục tìm đến các văn phòng luật sư hay các cơ quan bảo vệ về sở hữu trí tuệ chứ không thể bỏ lửng được.

Ngoài ra, người Việt cũng hay có tâm lý xuê xoa, kiểu "đóng cửa bảo nhau", bởi vì thực ra những người làm tranh giả và họa sĩ thường quen biết, hoặc từng có mối quan hệ qua lại. Ban đầu họ có thể là người bán tranh, chủ gallery hay nhà sưu tập, rồi họ bị tha hóa biến chất.

Vì thế, anh em họa sĩ nhiều khi muốn kiện nhưng rồi lại có những nể nang, rồi "thỏa thuận dân sự" để dẫn tới việc không khởi kiện nữa. Đó cũng chính là một nguyên nhân khiến cho những nỗ lực hạn chế tranh rởm không có hiệu quả.

- Theo quan sát chung, những họa sĩ bị làm tranh giả là những người nổi tiếng, có thể nói là "có sừng có mỏ", có tiếng nói trong giới mỹ thuật cả, nhưng lại rất ít người có động thái đầu tiên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đó là đi đăng ký bảo hộ quyền tác giả. Anh đánh giá thế nào về câu chuyện này?

+ Tôi cho rằng hiện nay, các cơ quan bảo vệ quyền tác giả cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật khác vẫn chưa chứng tỏ được là họ đã thể hiện trách nhiệm hay sự nhiệt tình vào những vụ việc cụ thể như tôi đã nói ở trên. Các cơ quan ấy không bao giờ chủ động trong việc làm của mình, mà cứ ngồi đợi xem anh em có đến để "xin việc" hay nhờ vả gì họ không.

Tôi cho rằng, nếu có trách nhiệm thì khi xảy ra những vụ việc lùm xùm, họ phải chủ động tìm hiểu xem như thế nào để có cách giải quyết thỏa đáng. Theo tôi, đó chính là một trong các lý do mà giới họa sĩ không tin tưởng vào hệ thống bảo vệ quyền tác giả ở đất nước mình.

Tôi thấy các họa sĩ nổi tiếng đều có ý thức về việc bảo vệ quyền tác giả của mình, nhưng không đi đăng ký mà thể hiện qua các kỹ thuật đặc biệt trong lúc sáng tác những "yếu tố nhận diện" của họ. Vì thế, khi có tranh giả, họ phát hiện và có thể chỉ ra tranh nào là tranh thật, tranh nào là tranh giả ngay.

Tất nhiên, tôi luôn ủng hộ việc các tác giả nên đi đăng ký bản quyền, đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, vì đó là thao tác đầu tiên để cơ quan bảo vệ quyền tác giả sử dụng làm căn cứ xử lý khi xảy ra tranh chấp.

- Là một nhà nghiên cứu mỹ thuật có nhiều năm sống ở nước ngoài, theo anh, đâu là biện pháp, là "liều thuốc" hiệu quả cho tình trạng lộn xộn, bất minh của thị trường mỹ thuật Việt Nam hiện nay?

+ Theo tôi, biện pháp đầu tiên cần làm đó là phát động dư luận xã hội để ngày càng có nhiều người hiểu thêm về vấn nạn này. Bởi vì tranh giả không chỉ làm ảnh hưởng tới thẩm mĩ, uy tín của họa sĩ mà còn ảnh hưởng tới cái nhìn chung của giới sưu tầm trong nước cũng như nước ngoài đối với nền mỹ thuật Việt Nam.

Cái này rất nguy hiểm, ở chỗ có thể đến một ngày không còn nhà sưu tập nào của thế giới muốn mua tranh của Việt Nam nữa. Những triển lãm của họa sĩ Việt mang đi nước ngoài người ta cũng không tin cậy, tranh vào bảo tàng cũng không được tin nữa là rất gay go. Việc giáo dục thẩm mĩ, thông tin đến xã hội là rất quan trọng để mọi người có nhận thức về việc cần phải có sự tìm hiểu kỹ càng trước khi mua tranh.

Tôi đã từng chứng kiến có những người bỏ ra rất nhiều tiền để mua tranh, nhưng lại mua phải tranh rởm. Tôi cũng khuyên người mua tranh hay các nhà sưu tập, nếu mua của họa sĩ đương đại thì tốt nhất hãy tìm đến với tác giả.

- Nghe nói, một trong những nguyên nhân làm nên sự hỗn loạn của thị trường mỹ thuật hiện nay có "đóng góp" không nhỏ của chính các họa sĩ. Họ tự chép tranh của họ ra làm nhiều bản, hay chính người thân trong nhà như con cái, bạn bè làm việc đó. Anh nhìn nhận góc độ "tự vi phạm" này như thế nào?

+ Như tôi đã từng chia sẻ trên trang cá nhân của mình, "chủ nghĩa NANAISM" - tôi lấy từ chữ "na ná" trong tiếng Việt - hay xu hướng họa sĩ tự nhái tranh của chính mình, nhái tranh của bạn bè... không chỉ có nước mình đâu, mà trên thế giới cũng vẫn tồn tại. Nhưng việc ý thức chép tranh, nhái tranh để làm kinh tế là rất tệ hại.

Thông lệ trong mỹ thuật, mỗi tác giả cũng có thể nhân bản tranh của mình với một số lượng hạn chế với điều kiện phải đề rõ phiên bản thứ mấy. Nhưng ở nước mình lại không có chuyện đó, không có sự minh bạch rõ ràng nên mới dẫn đến hệ lụy như ngày hôm nay. Nguyên nhân sâu xa khác là do luật pháp Việt Nam vẫn chưa có những quy định cụ thể, rõ ràng về quyền lợi của người được chép tranh và người chép tranh để họ căn cứ vào đó thực hiện.

Ví dụ: người chép tranh phải được đăng ký danh tính, trả bản quyền cho tác giả bức tranh được chép, ghi rõ tên nguyên tác... Có thể nói, sự lộn xộn về luật pháp, ý thức làm nghề của một bộ phận họa sĩ và sự thiếu hiểu biết của công chúng, người mua tranh đã tạo nên một thị trường mỹ thuật xấu xí, thiếu minh bạch như hôm nay.

- Mấy năm gần đây, sự tham gia của các sàn đấu giá nghệ thuật được nhiều người kỳ vọng sẽ thúc đẩy sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam. Nhưng sau nhiều vụ việc "lùm xùm" liên quan đến tranh giả được đem ra đấu giá, người ta lại mất niềm tin vào các sàn đấu giá nghệ thuật. Cá nhân anh nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

+ Thực ra, việc thẩm định tranh, chứng minh một bức tranh là thật hay giả thì sàn đấu giá nào trên thế giới cũng như Việt Nam đều có những ban thẩm định, những chuyên gia trong lĩnh vực này đảm nhiệm. Nhưng theo tôi, ở nước ta, trách nhiệm các chế tài để đảm bảo quyền lợi cho người mua tranh trên sàn đấu giá chưa có.

Việc mua phải tranh giả trên sàn đấu giá vẫn xảy ra đối với các nước văn minh, bởi vì nhiều lý do, như trình độ làm tranh giả hay kể cả việc nhà thẩm định có sự "thông đồng" với sàn đấu giá. Ở ta, các sàn đấu giá vẫn đang ở tình trạng manh nha, vẫn còn nhiều vấn đề đáng bàn.

 Theo tôi, các nhà đấu giá Việt Nam vẫn đang có những cố gắng để hạn chế tối đa việc xuất hiện tranh không rõ nguồn gốc vào các phiên đấu giá. Nhưng để bảo vệ quyền lợi của mình, người mua hay các nhà sưu tập phải có kiến thức, chủ động tìm hiểu hoặc nhờ đến các chuyên gia đánh giá độc lập ở bên ngoài đồng hành với họ thì sẽ hạn chế việc mua phải tranh giả.

- Xin cảm ơn Tiến sĩ Phạm Long!

Họa sĩ Đặng Tiến: Người trong cuộc thiếu quyết liệt

Khánh Linh (thực hiện)

-  Có lẽ đây không phải là lần đầu tiên tranh của anh bị chép và bày bán công khai?

+ Khoảng năm 1996-1997, bức tranh sơn dầu "Chiều" của tôi in trong cuốn Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc "được" một cơ sở làm tranh tre ghép ở Gia Lâm (Hà Nội) "chuyển chất liệu" mà cơ sở này không nói gì với tôi. Chủ cơ sở còn hùng hồn nói, đại ý đây là tác phẩm do họa sĩ của cơ sở sáng tác (?). Tôi vô tình xem được phóng sự về cơ sở này qua VTV3. Tiếp đó, sau triển lãm cá nhân của tôi (1998), một loạt tranh sơn dầu bị một gallery khá lớn của một họa sĩ ở Hà Nội làm nhái (có bức chuyển chất liệu sang sơn mài). Việc này tôi được một số anh em ở Hà Nội cho biết.

Tôi ở Hải Phòng, biết được việc tiếp cận, bắt quả tang ở gallery là rất khó nên tôi không làm được gì. Khi ấy những người làm tranh nhái cũng giấu rất kỹ, chỉ những người thân với họ mới biết được. Và bây giờ, sự việc mới nhất là tranh của tôi bị một trang web bày bán ngang nhiên.

- Nghĩa là việc ăn cắp, chép tranh có tính "hệ thống" từ rất lâu rồi, thế nhưng chúng ta gần như bất lực. Nhiều ý kiến cho rằng, vì các họa sĩ không quyết liệt đấu tranh và không biết tự bảo vệ tác phẩm của mình?

+ Thực tình, tôi cũng thấy lạ khi nhiều anh chị em họa sĩ ở Hà Nội không có phản ứng gì (hoặc rất nhẹ) trong việc nhiều cơ sở chép tranh bày bán công khai. Cũng có những họa sĩ phản ứng gay gắt (như họa sĩ Thành Chương trong triển lãm "Những bức tranh trở về từ Châu Âu"). Nhưng do các cơ quan chức năng chưa coi việc này là của họ, thành ra mọi việc vẫn chỉ là sự phàn nàn, bức xúc riêng của các họa sĩ. Với việc trang mạng xuongtranh.vn công khai rao bán những bức tranh của tôi và nhiều họa sĩ khác, sau khi tôi gửi mail cho cơ sở này, họ đã viết lời xin lỗi trên một tờ giấy rồi chụp đưa lên trang web và tuyên bố tạm dừng hoạt động. Tôi đang tiếp tục theo dõi và sẽ có những hành động tiếp theo để bảo vệ tác phẩm, quyền lợi của mình và sẽ làm triệt để.

- Nhưng rõ ràng nếu chỉ là nỗ lực của các họa sĩ thì chúng ta cũng mới chỉ giải quyết được phần ngọn cho từng sự việc cụ thể, chứ chưa tận gốc của vấn đề?

+ Đúng thế, chúng ta cần những giải pháp quyết liệt từ phía các cơ quan chức năng. Mỹ thuật Việt Nam từ thời đổi mới đã có nạn tranh giả, đến nay vẫn chưa được giải quyết. Giống như nhiều nỗi bức xúc khác (thực phẩm bẩn, môi trường ô nhiễm, hàng giả, kém chất lượng tràn lan, đạo đức xã hội xuống cấp), việc làm nhái, chép tranh tồn tại 30 năm nay chưa được giải quyết với nhiều lý do: Cơ sở pháp lý chậm, xã hội chưa tôn trọng pháp luật, quản lý nhà nước yếu kém, văn học nghệ thuật chưa được cơ quan quản lý và người dân coi trọng và cả việc đấu tranh của người trong cuộc chưa mạnh. Rộng hơn, chúng ta chưa coi trọng văn hóa, tôn trọng bản quyền và sự sáng tạo của nghệ sĩ.

- Tôi biết, lực lượng chép tranh hiện nay chủ yếu là các họa sĩ trẻ. Vậy chúng ta đã có vấn đề ngay từ khâu đào tạo rồi?

+ Từ lâu tôi đã nghe nói nhiều người thuê các họa sĩ trẻ, sinh viên chép tranh. Theo tôi nghĩ, ngoài việc dạy kỹ năng nghề, các thầy trong trường cũng nên dạy về đạo đức nghề. Nó là nhân cách của người họa sĩ. Việc nhận chép, làm nhái tổn hại lớn cho nền mỹ thuật, đồng thời cũng hại chính các em sau này ra trường, trở thành họa sĩ sáng tác. Ngoài việc không nhận chép, làm nhái, chúng ta cần phải lên án việc làm này.

Việc chép tranh như ở nước ngoài có quy định cụ thể theo luật (hành nghề và bản quyền). Tôi nghĩ, các cơ quan quản lý cần có quy định cụ thể khi cấp phép cho các cơ sở chép tranh, ví dụ: tay nghề, có cam kết không chép, làm nhái tranh sai luật… Như vậy, các cơ sở này sẽ ý thức được việc làm theo luật của mình, cơ quan chức năng cũng quản lý được và có chế tài xử lý theo luật. Các cơ sở sẽ không còn chống chế kiểu: "Xin lỗi, chưa hiểu luật...".

- Xin cảm ơn anh!

Ông Juan Pablo Pena - nhà sưu tầm tranh người Tây Ban Nha: Người vẽ tranh giả có thể đối mặt với án tù

N. Hà (ghi)

"Trong quá trình tìm hiểu để mua tranh của các họa sĩ đương đại Việt Nam, tôi có đọc được ở trên Internet lời phàn nàn của một người mua tranh Việt Nam và sau đó họ biết được đó là tranh giả. Tôi cũng đọc được một số bài báo về tình trạng tranh giả đáng báo động ở Việt Nam, vì thế tôi phải tìm hiểu thật kỹ lưỡng trước khi quyết định mua một tác phẩm nào đó. Khi tôi cảm thấy nghi ngờ, tôi yêu cầu phòng tranh phải đưa được họa sĩ tới để gặp gỡ, thẩm định. Tôi chú ý tới mỹ thuật của Việt Nam, đặc biệt là các họa sĩ trẻ, bởi vì khi tôi tới đây tôi đã được xem rất nhiều tranh đẹp, nhiều họa sĩ tài năng.

Ở các nước, Chính phủ có các chính sách mạnh mẽ để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng với những quy định rõ ràng, nên mặc dù tranh giả vẫn có nhưng ít hơn nhiều. Người vẽ tranh giả có thể phải đối mặt với án tù lên tới vài năm. Sự quản lý, những nguyên tắc của Nhà nước cho việc bảo vệ tranh thật sẽ khiến những người làm tranh giả phải e ngại. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ở Việt Nam, hiện tượng tranh giả lại diễn ra ngang nhiên, tràn lan và trở thành một việc bình thường như thế".

PV

Các tin khác

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Tin vui cho những nghệ sĩ âm nhạc dân tộc Việt Nam là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án xây dựng Dàn nhạc Dân tộc Quốc gia Việt Nam vào ngày 22/4/2026 với quyết tâm triển khai ngay trong năm nay và dự kiến tổng kết vào năm 2031. Đây là một quyết định đúng đắn (dù hơi muộn) và cho thấy rõ chủ trương đầu tư cho phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện tại.

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đẩy mạnh việc quảng bá, giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu thuộc các loại hình ca múa nhạc, kịch nói, cải lương, hát bội, xiếc, múa rối.

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Nỗi sợ lớn nhất của tôi là gì? Là không gì cả. Phần lớn thời gian của tôi được dành để nỗ lực chứng minh rằng mình đáng được nhớ đến. Làm việc chăm chỉ hơn, mơ lớn hơn, nói “có” với những cơ hội - kể cả khi chúng vắt kiệt mình.

Kiến tạo văn hóa số

Kiến tạo văn hóa số

Người viết cho rằng: AI tạo sinh có thể cắt ghép, được dựng nên những hiện thực chưa từng có theo ý muốn của chúng ta. Giờ đây, thay vì nheo mặt để nhận diện tem mác, dấu hiệu hàng fake trên hàng hóa thì đến lúc đắn đo trước những tác phẩm: Liệu bài thơ này, bản nhạc kia, bức tranh nọ... có dấu hiệu can thiệp của AI hay không? Chúng ta sống với AI hay chúng ta sống bằng AI? Một câu hỏi khó trả lời.

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Trong tháng 3/2026 vừa qua, số lượng các bản ghi âm bị từ chối phát hành qua nền tảng Tunecore của Công ty Believe đột nhiên tăng vọt. Và, tất cả những bản phát hành bị từ chối ấy đều có một điểm chung: đó là những bản nhạc được tạo ra bởi AI.

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã thành công tốt đẹp vào ngày 17/4, song báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục có nhiều bài viết đặc sắc, khẳng định quan hệ truyền thống gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc cũng như tầm nhìn, định hướng trong việc nâng tầm kết nối chiến lược giai đoạn phát triển mới.

Mệnh lệnh của niềm tin

Mệnh lệnh của niềm tin

Hôm nay, cũng như mọi ngày, tôi dậy rất sớm, ngồi bên ly cà phê và lướt nhanh trên màn hình smartphone. Có lẽ, giờ này nhiều người cũng giống tôi tìm sự khởi đầu cho ngày mới bằng việc nhật tin tức sau một đêm - nguồn năng lượng mới từ sự trong trẻo tinh khôi của thiên nhiên và sự hào hứng của tinh thần.

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Tin vui cho giới làm phim Việt là tính đến trưa 10/4, theo thống kê của Box Office Vietnam (BOVN - trang web độc lập chuyên tổng hợp, phân tích và thống kê dữ liệu doanh thu phòng vé, số lượng vé và suất chiếu trên toàn lãnh thổ Việt Nam), phim "Hẹn em ngày nhật thực" của đạo diễn Lê Thiện Viễn đã thu về hơn 81 tỉ đồng sau khi bắt đầu công chiếu từ cuối tháng 3 và vẫn đang giữ vững vị trí đầu bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Việt (tính theo ngày).

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Chuyện ồn ào trên mạng xã hội liên quan đến nữ ca sĩ Thiện Nhân và gia đình của cô chắc chắn là một chuyện không vui chút nào, đặc biệt là khi soi chiếu bằng các giá trị văn hóa Á Đông vốn coi trọng nền tảng tình cảm gia đình, quyến thuộc hơn là tài sản.

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

Gần đây trong tiếng Việt có từ mới “GATO” nhanh chóng trở nên phổ biến. Viết tắt của “ghen ăn tức ở”, dịch sang tiếng Tây, tương đương từ “đố kỵ” - một trạng thái cảm xúc tiêu cực, khó chịu, ghen ghét, cay cú trước thành công, danh tiếng người khác.

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Trong bối cảnh văn hóa đọc Việt Nam đang chứng kiến những chuyển động chưa từng có, một hiện tượng nổi bật là sự trỗi dậy mạnh mẽ của sách ngoại văn, đặc biệt là qua các hiệu sách độc lập (indie) có giám tuyển. Không chỉ phản ánh nhu cầu cập nhật tri thức toàn cầu của lớp độc giả trẻ, hiện tượng này còn đặt ra những câu hỏi mang tính chiến lược về con đường đưa văn chương Việt Nam ra thế giới.

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh ban hành văn bản chấn chỉnh hoạt động biểu diễn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chấm dứt tình trạng hát nhép trên sân khấu. Việc này đã nhận được sự đồng thuận cao, không chỉ từ phía những nhà quản lý văn hóa mà cả với những người trực tiếp hoạt động biểu diễn, doanh nghiệp tổ chức biểu diễn.

AI - Tìm đâu ra người thật?

AI - Tìm đâu ra người thật?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang thay đổi cách sách đi từ tay tác giả đến bạn đọc từ khâu sáng tác và biên tập đến in ấn và marketing. Không phải ai cũng hoan nghênh sự thay đổi này, và quả thực là ngoài một số lợi ích nhất định, việc sử dụng AI tràn lan cũng đem lại nhiều vấn đề làm đau đầu các nhà xuất bản, đơn cử như việc con người để cho AI thay thế tác giả và biên dịch viên.

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Trong đám tang nhà thơ Đàm Khánh Phương tại nhà tang lễ Đức Giang hôm ấy, ngoài nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - có mặt và sau đó đọc điếu văn - tôi thấy không nhiều các nhà văn, nhà thơ khác đến đưa tiễn. Phương ít bạn, hay là khi khỏe mạnh, Phương đã có những điều làm bạn bè khó cảm thông?  

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Năm 2001, đạo diễn Steven Spielberg ra mắt bộ phim “A.I. - Artificial Intelligence”, kể về cậu bé robot David được lập trình để yêu thương vô điều kiện. Khi người mẹ nuôi bỏ rơi cậu giữa rừng, David bắt đầu hành trình 2000 năm đi tìm một ngày được sống bên bà. Khi những sinh vật tiến hóa đánh thức cậu giữa tàn tích băng giá, điều David xin không phải tri thức hay quyền năng, mà chỉ là một ngày được yêu thương.

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Động viên đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo luôn là một trong những chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa soi đường quy hoạch

Văn hóa soi đường quy hoạch

Gần đây, có hai sự việc nhận được khá nhiều sự quan tâm của dư luận, và vẻ bề ngoài, hai sự việc ấy không hoàn toàn liên quan tới nhau nhưng sâu trong bản chất, chúng lại có một điểm chung.

Sống để kết nối yêu thương

Sống để kết nối yêu thương

Sống là để kết nối những yêu thương, bởi cuộc sống có biết bao nhiêu điều đáng yêu mà chúng ta không thể kể tên hết được. Đó là một cảm nhận của người viết có được mỗi khi quan sát và lắng nghe từng thanh âm của cuộc đời. Dẫu biết hằng ngày vẫn xuất hiện cái ác, cái xấu nhưng còn có biết bao người tốt, bao hành động cao cả.

“Cái chết” của sách bìa mềm

“Cái chết” của sách bìa mềm

Cuộc cách mạng văn học hiện đại có sự đóng góp không hề nhỏ của sách bìa mềm. Những quyển sách bìa mềm được bày bán khắp mọi nơi với giá cả phải chăng đã đưa văn học đến với tất cả mọi thành phần trong xã hội.

Quyết liệt phát triển văn hóa

Quyết liệt phát triển văn hóa

Diễn biến mới nhất của việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 7/1/2026, đó là Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã có cuộc họp đầu tiên, trong tuần qua, với nhiều nội dung quan trọng.