Vài ngày với bà “Gánh gánh gồng gồng”

Bà “Gánh gánh gồng gồng” là bà Nguyễn Thị Xuân Phượng, năm nay 93 tuổi (sinh năm 1929), bà chủ phòng tranh Lotus nổi tiếng ở TP Hồ Chí Minh, tác giả hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”, cuốn sách đã được cả hai tổ chức là Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh trao giải cao nhất về văn xuôi năm 2020.

Tôi được gặp bà lần đầu tiên vào thượng tuần tháng Ba năm 2022, tại Sài Gòn. Nhưng trước đó, có thể nói, tôi đã gặp bà qua hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”. Sau khi đọc xong, với biết bao xúc động và kính nể người phụ nữ xưng Tôi trong cuốn sách này, tôi quyết định phải Nam tiến bằng được để thấy bà, bằng xương bằng thịt, người đã chia sẻ một tình thế lựa chọn viết hồi ký rất hy hữu ở cái tuổi 90: “Tháng 7 năm 1989, tôi gặp mẹ mình và các em tại sân bay Charles de Gaulle Paris. Gia đình đã bay từ Mỹ sang thăm vì tôi chưa có thị thực vào Mỹ. Chúng tôi cười cười khóc khóc trong niềm vui đoàn viên.

Trong một bữa cơm trưa, bỗng mẹ tôi chống đũa nhìn tôi: “Con ơi, sao con theo họ làm chi để gia đình ly tán, phải rời quê cha đất tổ con ơi”... Tôi không trả lời mẹ ngay hôm ấy nhưng cũng từ  đấy nảy ra ý định phải kể lại đời mình. Tôi mong muốn gia đình thương yêu hiểu rõ thêm những gì tôi đã trải qua. Và cũng vì những người trẻ chưa hề biết đến chiến tranh, tôi quyết định viết lại đời tôi”. Và đó, hồi ký này, là một cái viết ghê gớm, đầy hấp dẫn.

hoai nam-xuan phuong va tac gia 3.22.jpg -0
Tác giả và bà Nguyễn Thị Xuân Phượng.

Ghê gớm và đầy hấp dẫn, bởi đó là cái viết về cuộc đời một người phụ nữ Việt Nam bé nhỏ bị cuốn vào dòng thác lũ lịch sử cuồng nộ chảy vắt qua hai thế kỷ. Bị cuốn vào nhưng vẫn sống vững, và vẫn thành công lớn. Người phụ nữ ấy từng đi theo Cách mạng lên chiến khu Việt Bắc năm mười sáu tuổi, làm y tá quân đội, làm nhân viên chế tạo thuốc nổ, làm báo, từng đẻ rơi đứa con đầu lòng trên sông Lô thời kháng Pháp. Người phụ nữ ấy từng làm cán bộ văn hóa đối ngoại, phiên dịch viên tiếng Pháp cực “xuya” thời kháng Mỹ tại Hà Nội, từng ra tận tuyến lửa Vĩnh Linh trong đoàn phim tài liệu “Vĩ tuyến 17, chiến tranh nhân dân” của đạo diễn nổi tiếng thế giới Joris Ivens, sau đấy chính bà cũng trở thành một phóng viên chiến trường thời chống Mỹ, một đạo diễn phim tài liệu dày dạn.

Người phụ nữ ấy từng cùng nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước sống khốn khó suốt những tháng ngày bao cấp và hậu chiến đói xanh da vàng mắt trước khi vào TP Hồ Chí Minh mở phòng tranh Lotus, một trong những phòng tranh tư nhân đầu tiên thời đất nước thực hiện đổi mới, mở cửa. Sau đó là liên tục các cuộc triển lãm tranh Việt Nam, chủ yếu của các họa sĩ trẻ, ở khắp nơi trên thế giới suốt ba mươi năm qua (1991 - 2021) mà bà tổ chức hoàn toàn bằng tiền túi của mình, với một ý nghĩ cháy bỏng: phải góp phần làm cho thế giới biết đến hội họa Việt Nam, vì đó là văn hóa Việt Nam, và phải khiến cho họ càng thêm yêu quý, trân trọng nó.

Ghê gớm và hấp dẫn, bởi đó là cái “viết lại đời tôi” của một lão bà 90 tuổi, mà văn phong chuẩn xác, đơn giản và đầy tinh tế. Một ý cần nhấn mạnh: viết hồi ký, đa phần người viết sẽ chọn lối tự sự biên niên sử, và ra sức trút vào trang sách tất cả những gì mình còn nhớ được từ những phần đời đã trải, cứ như thể mình sẽ bị lỗ nặng nếu để sót cái gì chưa kể. Nhiều cuốn hồi ký rất dài, rất dày và đọc rất mệt, chính là vì thế. Nhưng “Gánh gánh gồng gồng” của bà Xuân Phượng thì không như thế.

Đó đều là những chi tiết rất thật, nhưng được chọn lọc, nên rất đắt, nhiều chi tiết như những “a ếch đốt” thú vị và có sức khái quát cao. Hơn nữa, như một người kể chuyện lành nghề, bà Xuân Phượng không để câu chuyện đời mình trôi tuột theo dòng thời gian biên niên sử đều đều, mà ở nhiều điểm nhấn, bà tạt ngang để kể chuyện khác, hoặc nhảy gấp tới để nói những chuyện mãi mấy chục năm sau mới xảy ra. Kể, “viết lại đời tôi” theo cách ấy, tôi nghĩ, cũng là điều không dễ thấy đối với ngay cả những nhà văn chuyên nghiệp.

Về tác phẩm thì như thế. Trở lại với việc tôi được gặp bà Xuân Phượng tại Sài Gòn. Số là, tôi rất muốn làm một cái gì đó về bà, dù chỉ là một phim ngắn. Nên trước khi đi khoảng một tháng tôi đã chủ động liên lạc với bà, và kể từ đó, ngày nào hai bà cháu cũng í ới “chém gió với nhau” (chữ của bà) đủ chuyện qua messenger. Đến khi bà cháu gặp nhau tại phòng tranh Lotus 100 Nam Kỳ Khởi Nghĩa thì đã quý mến thân mật như là cố nhân tự thuở nào.

Cứ nhìn cái cảnh bà ngồi giữa mọi người, mái tóc trắng phau, đôi mắt hóm hỉnh, miệng cười nói rất tươi, những nếp nhăn trên mặt chỉ giống như món đồ trang sức mà thời gian dành tặng bà, thì mới thấy bà Xuân Phượng đúng là tâm điểm có sức thu hút rất lạ. Mọi người thích gặp và trò chuyện với bà vì nhiều lẽ: khâm phục một người phụ nữ bản lĩnh, kiên cường, giỏi giang, đầy ý chí vươn lên; yêu quý một tấm lòng trung thực, nhân hậu, biết lắng nghe và biết chia sẻ với người khác; một người biết suy nghĩ rất thực tế nhưng lại cũng rất rộng lượng, hào hiệp, đầy tinh thần “anh Hai Nam bộ” trong ứng xử.

Nhưng vẫn còn một lý do khác nữa: bà Xuân Phượng, đó là cả một kho chuyện đời, chuyện làng văn nghệ ngồn ngộn, dường như không vơi cạn, do đó những gì bà kể trong hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” mới chỉ là một phần nhỏ mà thôi. Phần lớn, thì bà ... “xuất bản miệng”. Mà khi bà “xuất bản miệng” thì những câu chuyện ấy lại được tẩm ướp bằng ngữ khí, bằng cảm thán, bằng ngắt nghỉ nhấn nhá, được chắp cánh bằng điệu bộ tay chân, bằng ánh mắt điệu cười, nên chúng hấp dẫn người nghe vô cùng.

thumb_660_04650092-1f24-47e6-98f9-3bbc5538e503.jpg -0
Bìa cuốn “Gánh gánh gồng gồng” của bà Nguyễn Thị Xuân Phượng.

Bà kể chuyện chồng bà, Đại tá pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Phước Hoàng, dòng hoàng tộc Huế, người tham gia trận đánh trên đồi A1 chiến trường Điện Biên Phủ, cựu Chủ nhiệm bộ môn Thủy khí động lực học của Đại học Bách khoa Hà Nội: “Khi bà mở phòng tranh kinh doanh, ông ấy không đồng ý, bảo đấy là kinh tế tư nhân, tư bản bóc lột. Bà kệ không nói gì. Có một hôm ông ấy đưa bà một tờ giấy gấp tư, mở ra thì thấy viết: “Phượng ơi, từ ngày Phượng đi vào con đường buôn bán, con đường đến thư viện đã mỗi lúc một xa hơn với Phượng”. Trời đất, mình đọc sách còn nhiều hơn ông ấy, có ngày nào không đọc, vậy mà nói con đường đến thư viện mỗi lúc một xa hơn. Mấy lão già gàn lãng mạn. Không chấp”. Bà vừa kể mà vừa cười chảy nước mắt.

Rồi bà kể chuyện kinh doanh phòng tranh Lotus: cả một kho dật sự tích lũy suốt 30 năm. Ai đã đọc hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” hẳn còn nhớ họa sĩ Trương Đình Hào, người mà bà Xuân Phượng đã phải cất công về tận Bắc Giang để lôi ra từ một căn nhà nát, mua toàn bộ những bức tranh ông vẽ mà không một ai mua, thậm chí không một ai biết đến. Mua tranh, rồi đưa Trương Đình Hào cùng các tác phẩm của ông đi triển lãm nhiều lần ở nước ngoài, làm thay đổi toàn bộ cuộc đời nghệ thuật của người họa sĩ.

Trong “Gánh gánh gồng gồng” bà Xuân Phượng chỉ nhắc một trường hợp này, nhưng trong thực tế thì nhiều lắm. Bà kể, có người thì bà tìm đến, có người lại tìm đến bà. Thường thì họ là những sinh viên vừa ra trường, những họa sĩ vô danh, và họ đói khát thiếu thốn theo nghĩa đen. Tất nhiên là bà giúp đỡ họ. Và nếu thấy tranh của họ có cá tính hoặc có sự hứa hẹn phát triển theo hướng tốt, thì bà mua, rồi góp ý khuyến khích để họ tiếp tục sáng tác, rồi tổ chức mở triển lãm cho họ ở cả trong nước và trên thế giới.

Cứ dần dần như thế, những họa sĩ ấy nay đều đã trở thành những họa sĩ sáng giá, những tên tuổi bán tranh rất tốt trên thị trường mỹ thuật đương đại. Tốt đến nỗi, rốt cuộc họ không bán cho bà Lotus nữa, mà bán cho những người khác, những người sẵn sàng mua tranh với giá cao hơn giá mà bà có thể mua. Bà bảo, đó là sự nghiệt ngã tất yếu của cái nghề phòng tranh này, mà đã làm nghề thì phải biết chấp nhận. “Không phải bà không có đủ tiền để mua tranh của họ với cái giá đó. Nhưng mắc gì phải chạy theo? Tiền ấy bà dành để tiếp tục... nuôi những đứa khác”.

Tôi mất ba ngày để thực hiện tiền kỳ bộ phim ngắn về bà Xuân Phượng. Ba ngày bà cháu bên nhau, nhưng đã có biết bao câu chuyện và biết bao ấn tượng về bà mà tôi thâu nhận. Tôi trở về Hà Nội trong một chuyến bay đêm. Sáng hôm sau mở điện thoại đọc thấy tin nhắn của bà: “Con về an toàn không? Con vào có mấy hôm, lại mải công việc nên thực ra bà cháu cũng không nói được gì nhiều lắm. Lần sau con vào dài ngày hơn, thư thả, mình sẽ chém gió với nhau nhiều hơn nhé. Bà cũng không còn nhiều thời gian nữa con ạ”.

Chỉ vậy thôi mà thấy xốn xang trong trí tưởng tôi, rất thực, hình ảnh một bà Xuân Phượng lúc nào cũng lịch lãm, tươi cười, hóm hỉnh, hào sảng, và đầy sức sống, dù đã ngoại cửu tuần, dù đã ''gánh gánh gồng gồng'' đi xuyên hai thế kỷ vô cùng gian lao.

Hoài Nam

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.