Tục bắt vợ: chẳng của riêng ai

Tục “bắt vợ”, “cướp vợ”, “kéo dâu” là những cặp từ mang sắc thái khác nhau chỉ một tục phổ biến trên khắp thế giới từ xưa tới nay, trong tiếng Anh gọi là tục “bắt cóc cô dâu” hay “hôn nhân nhờ bắt cóc”.

Tục này ở Việt Nam hiện không chỉ có ở người Mông mà còn lác đác có ở người Dao, người Thái. Trên thế giới, hiện nó vẫn còn ở các nước Rumani, Mexico và đặc biệt tại các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Azerbaizan.v.v.

Tục đi nghỉ “tuần trăng mật” có gốc từ nước Anh đầu thế kỷ 19 dành cho đôi vợ chồng son tầng lớp thượng lưu được coi là một tàn dư của tục này. Nó diễn ra khi người chồng bắt vợ đưa đi trốn để tránh sự trả đũa của họ hàng nhà vợ và với ý định làm vợ có thai vào cuối tháng.

Tại một số bang của Ấn Độ, còn có tục “bắt cóc chú rể” hay “bắt chồng”. Tục này do gia đình cô gái nhắm vào các chú rể có học hay giàu có. Năm 2009, 1224 vụ “bắt chồng” đã được trình báo ở bang Bihar.

image001.jpg -0
Một cuộc “kéo dâu” của trai gái Mông, có vẻ là một màn kịch vui hơn là một cuộc bắt cóc..

Gần gũi với tục bắt vợ còn có tục “cưới chạy” có ở nhiều nơi trên thế giới. Đôi trai gái cùng chạy trốn, thành vợ chồng trước rồi mới tìm cách nhận sự đồng ý sau của bố mẹ hai bên.

Tục bắt vợ - tính hai mặt

Thực tế, tục bắt vợ ở mọi dân tộc đều gồm hai dạng: dạng có sự đồng thuận và không có sự đồng thuận của cô gái. Ở dạng thứ nhất, chàng trai có thể bắt cóc cô gái nếu cô ta cũng muốn thế và khi nhà chàng trai quá nghèo không thể lo được tiền thách cưới. Ở dạng thứ hai, nếu cô gái không chịu lấy kẻ bắt cóc có thể làm nhà cô gái mất mặt, khiến bố mẹ cô không còn cách nào khác là cố thuyết phục con chấp nhận số phận, để khỏi phải tự tử bởi không còn trinh khiến cô gái khó hoặc không thể lấy ai khác. Chính vì thế, tục này vẫn tồn tại dù bị cấm và tiếp tục gây tranh cãi.

Một phe, dựa trên những vụ bắt cóc đồng thuận, coi đó là luật tục, là truyền thống vô hại lâu đời. Hơn nữa, đó còn là một phong tục nhân văn, tốt đẹp, thể hiện tự do hôn nhân, thể hiện giá trị của người phụ nữ, một lối thoát cho các chàng trai nghèo khỏi tục thách cưới nặng nề. Thực tế, tại nhiều dân tộc, tục này vẫn được sự ủng hộ của người có tuổi. Nhiều phụ nữ là bà và mẹ của các cô gái cho rằng, họ cũng từng bị bắt cóc như vậy, nhưng sau đó mọi việc vẫn đâu vào đấy và giờ họ vẫn thấy hạnh phúc.

Một phe, từ những vụ bắt dâu cưỡng bức gắn với việc giam giữ, cưỡng hiếp cô gái, kéo theo bạo lực gia đình, dẫn đến bệnh trầm uất và nạn tự tử ở phụ nữ. Báo chí truyền thông đã mạnh mẽlên án và coi đó là hủ tục, là hành vi trái pháp luật cần nghiêm minh xử lý. Liên hợp quốc đã ra nghị quyết lên án tục này là một sự vi phạm nghiêm trọng nhân quyền. Chính vì thế, dư luận xã hội đối với tục này luôn phân hóa và ngay cả việc xét xử các vụ bắt dâu cưỡng bức cũng không dễ dàng.

Tại Kyrzystan, từ 1994-1996, đã có ít nhất 11.800 vụ được trình báo, nhưng tòa chỉ xử 1.500 vụ. Tại Mỹ, trong một vụ án năm 1985 ở California, một chàng trai Mông bị xử vì đã bắt cóc và cưỡng hiếp một cô gái Mông, nhưng luật sư đã viện dẫn “lý do văn hóa” để bị cáo chỉ bị kết án tội “bắt người trái phép”, nhẹ hơn nhiều so với tội danh ban đầu.

Tục bắt vợ: vì sao vẫn tồn tại ở người Mông?

Sự tồn tại dai dẳng của tục bắt vợ ở người Mông là do những nguyên nhân lịch sử-kinh tế-xã hội sâu xa. Dễ thấy phong tục đó, ở người Mông cũng như ở các tộc khác trên thế giới, đều gắn liền với tục gia trưởng phụ quyền, tục hôn nhân mua bán, tục tảo hôn cùng với tình trạng nghèo đói, thất học.

Riêng với người Mông, ngoài các lý do trên, thêm nữa tập quán của họ lại gắn bó với lối sống du canh du cư và nghề trồng thuốc phiện. Người Mông vốn là một tộc người trồng lúa. Họ có thể sống định cư bằng cách làm ruộng nước với hệ thống thủy lợi hay với ruộng nước bậc thang. Nhưng hàng nghìn năm qua phần lớn người Mông đã phải sống chủ yếu bằng cách phá rừng làm nương gắn với việc du canh du cư ở vùng núi. Một cuốn sách năm 1924 về người Mông viết rằng trong lịch sử của mình, người Mông “đã phiêu bạt qua hàng triệu cây số” và “đã đốt phá phần lớn những cánh rừng già châu Á”!

Trong lối sống đó, nam giới Mông đóng vai trò quyết định. Họ là những thợ rèn làm ra những con dao sắc bền chặt cây rừng, những lưỡi cày sắc khỏe trên đất dốc. Và cũng chỉ nam giới Mông mới có thể giỏi dùng những con dao, lưỡi cày đó để phá rừng mở đất. Và trong hơn hai trăm năm qua, người Mông đã từng là tộc người trồng, bán và dùng thuốc phiện chính ở Việt Nam.

Ngược lại lịch sử thế giới, năm 1858, sau khi bị Anh đánh bại trong hai cuộc chiến tranh thuốc phiện, Trung Quốc bị ép phải hợp pháp hóa việc buôn bán và trồng loại ma túy này. Một số quan lại nhà Thanh nghiện và làm giàu nhờ buôn bán thuốc phiện đã đưa việc trồng cây thuốc phiện lên các vùng người Mông. Quá trình người Mông di cư xuống Việt Nam, Lào, Thái Lan, chiếm lĩnh vùng núi cao có liên quan tới việc trồng thuốc phiện, loài cây ưa đất màu từ việc đốt rừng già ở nơi khí hậu mát lạnh.

Với người Mông, thuốc phiện một thời xa xưa cũng là cây trồng lý tưởng, nhờ nó họ có muối ăn hàng ngày, có bạc làm đồ trang sức cho phụ nữ, có vải bông may quần áo cho đàn ông, có lợn trâu để làm đám ma, có tiền tươi bạc thật để mua dâu và nộp thuế. Có thuốc phiện, đàn ông Mông cũng có được những giây phút ngây ngất bên “nàng tiên nâu”, phụ nữ Mông cũng có thuốc quí khi có bệnh. Trong nghề trồng thuốc phiện, nam giới cũng giữ vai trò chính. Nhà nào có nhiều đàn ông là nhà đó có nhiều thuốc. Chưa kể, người đàn ông Mông còn là nòng cốt của các dòng họ phụ hệ Mông có vai trò quan trọng trong việc cố kết xã hội Mông vốn phân tán, biệt lập. Đàn ông Mông cũng là những chiến binh dũng cảm trong các cuộc xung đột. Đặc biệt, họ cũng là những pháp sư cao cường trong cúng tế, những người thổi và múa khèn tài ba trong đám ma, những người chủ chốt trong việc kết nối người Mông với tổ tiên-thần linh và chữa lành những nỗi đau trần thế của họ.

Dễ hiểu, chế độ gia trưởng phụ quyền đã sâu rễ bền gốc trong xã hội Mông xa xưa như thế nào.

Trong chế độ ấy, đàn ông luôn là bề trên, vợ phải phục tùng và chăm sóc chồng tận tình, chu đáo. Phần lớn dân ca Mông là “tiếng hát làm dâu”, và phần lớn tiếng hát làm dâu là những lời ai oán. Trong chế độ ấy, con trai luôn được ưu ái. Một câu ca Mông hát “Nuôi con lợn béo còn được mỡ. Nuôi con gái lớn không được gì”. Nói phũ vậy thôi chứ thực tế, bố mẹ có con gái xinh đẹp khỏe mạnh sẽ được nhiều tiền nếu bán được con gái với giá cao. Cả bố và mẹ người Mông đều muốn con trai lấy vợ sớm để họ sớm có thêm người sai bảo việc nhà việc ruộng vườn, để họ phải làm ít hơn và được say nhiều hơn. Cùng một mong muốn ấy, có người nên giàu nên khỏe, có người thành nghèo thành yếu. Các cặp vợ chồng Mông, trên chiếc giường hẹp tổ tiên truyền lại nói là để gắn bó với nhau, cũng yêu nhau và sinh con nhiều hơn. Từ đó, những đứa trẻ Mông ra đời và lớn lên như những nương lanh, khóm ngô giữa sương mù và trên dốc núi…

Cũng từ đó, tục bắt vợ đã bao đời như đá núi trên con đường sống của người Mông.

Ngày nay, cùng với sự đổi thay của đất nước, có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ, cuộc sống người Mông đã có những thay đổi tích cực. Người Mông nhận thức được trồng cây thuốc phiện là sai, là xấu, họ đã bỏ được cây thuốc phiện và sống định canh định cư. Quyền phụ nữ Mông và quyền trẻ em Mông cũng đang dần được cải thiện.

Cách đây vài năm, chúng ta đã biết đến Mai, một cô gái Mông bán hàng rong ở Sa Pa với tài nói tiếng Anh như gió. Cô đã từng may mắn thoát khỏi một cuộc bắt vợ không mong đợi và mong muốn bãi bỏ tục lệ này. Sau này, cô đã tự do chọn chồng là một khách du lịch- doanh nhân người Bỉ, sang Bỉ sống, li hôn, từng hẹn hò với một doanh nhân Mỹ gốc Á, rồi tiếp theo với một người Bỉ khác… Đúng là một cô gái có tự do hôn nhân, có nữ quyền thực sự!

Gần đây chúng ta lại biết đến Di, nhân vật chính của bộ phim tài liệu “Những đứa trẻ trong sương” nổi tiếng trong và ngoài nước của đạo diễn Hà Lệ Diễm. Đó cũng là một cô gái Mông Sa Pa, cũng đã vượt qua tục bắt vợ để tiếp tục đi học và sau đó tự quyết việc chồng con của mình. Theo đà đó, chúng ta mong rằng, sẽ ngày càng có nhiều cô gái Mông có học, có ý thức, có lòng dũng cảm vượt qua tục này, để một ngày, tục đó chỉ còn là một chuyện xưa, tích cũ.

Tạ Đức

Các tin khác

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Tin vui cho những nghệ sĩ âm nhạc dân tộc Việt Nam là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án xây dựng Dàn nhạc Dân tộc Quốc gia Việt Nam vào ngày 22/4/2026 với quyết tâm triển khai ngay trong năm nay và dự kiến tổng kết vào năm 2031. Đây là một quyết định đúng đắn (dù hơi muộn) và cho thấy rõ chủ trương đầu tư cho phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện tại.

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đẩy mạnh việc quảng bá, giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu thuộc các loại hình ca múa nhạc, kịch nói, cải lương, hát bội, xiếc, múa rối.

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Nỗi sợ lớn nhất của tôi là gì? Là không gì cả. Phần lớn thời gian của tôi được dành để nỗ lực chứng minh rằng mình đáng được nhớ đến. Làm việc chăm chỉ hơn, mơ lớn hơn, nói “có” với những cơ hội - kể cả khi chúng vắt kiệt mình.

Kiến tạo văn hóa số

Kiến tạo văn hóa số

Người viết cho rằng: AI tạo sinh có thể cắt ghép, được dựng nên những hiện thực chưa từng có theo ý muốn của chúng ta. Giờ đây, thay vì nheo mặt để nhận diện tem mác, dấu hiệu hàng fake trên hàng hóa thì đến lúc đắn đo trước những tác phẩm: Liệu bài thơ này, bản nhạc kia, bức tranh nọ... có dấu hiệu can thiệp của AI hay không? Chúng ta sống với AI hay chúng ta sống bằng AI? Một câu hỏi khó trả lời.

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Trong tháng 3/2026 vừa qua, số lượng các bản ghi âm bị từ chối phát hành qua nền tảng Tunecore của Công ty Believe đột nhiên tăng vọt. Và, tất cả những bản phát hành bị từ chối ấy đều có một điểm chung: đó là những bản nhạc được tạo ra bởi AI.

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã thành công tốt đẹp vào ngày 17/4, song báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục có nhiều bài viết đặc sắc, khẳng định quan hệ truyền thống gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc cũng như tầm nhìn, định hướng trong việc nâng tầm kết nối chiến lược giai đoạn phát triển mới.

Mệnh lệnh của niềm tin

Mệnh lệnh của niềm tin

Hôm nay, cũng như mọi ngày, tôi dậy rất sớm, ngồi bên ly cà phê và lướt nhanh trên màn hình smartphone. Có lẽ, giờ này nhiều người cũng giống tôi tìm sự khởi đầu cho ngày mới bằng việc nhật tin tức sau một đêm - nguồn năng lượng mới từ sự trong trẻo tinh khôi của thiên nhiên và sự hào hứng của tinh thần.

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Tin vui cho giới làm phim Việt là tính đến trưa 10/4, theo thống kê của Box Office Vietnam (BOVN - trang web độc lập chuyên tổng hợp, phân tích và thống kê dữ liệu doanh thu phòng vé, số lượng vé và suất chiếu trên toàn lãnh thổ Việt Nam), phim "Hẹn em ngày nhật thực" của đạo diễn Lê Thiện Viễn đã thu về hơn 81 tỉ đồng sau khi bắt đầu công chiếu từ cuối tháng 3 và vẫn đang giữ vững vị trí đầu bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Việt (tính theo ngày).

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Chuyện ồn ào trên mạng xã hội liên quan đến nữ ca sĩ Thiện Nhân và gia đình của cô chắc chắn là một chuyện không vui chút nào, đặc biệt là khi soi chiếu bằng các giá trị văn hóa Á Đông vốn coi trọng nền tảng tình cảm gia đình, quyến thuộc hơn là tài sản.

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

Gần đây trong tiếng Việt có từ mới “GATO” nhanh chóng trở nên phổ biến. Viết tắt của “ghen ăn tức ở”, dịch sang tiếng Tây, tương đương từ “đố kỵ” - một trạng thái cảm xúc tiêu cực, khó chịu, ghen ghét, cay cú trước thành công, danh tiếng người khác.

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Trong bối cảnh văn hóa đọc Việt Nam đang chứng kiến những chuyển động chưa từng có, một hiện tượng nổi bật là sự trỗi dậy mạnh mẽ của sách ngoại văn, đặc biệt là qua các hiệu sách độc lập (indie) có giám tuyển. Không chỉ phản ánh nhu cầu cập nhật tri thức toàn cầu của lớp độc giả trẻ, hiện tượng này còn đặt ra những câu hỏi mang tính chiến lược về con đường đưa văn chương Việt Nam ra thế giới.

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh ban hành văn bản chấn chỉnh hoạt động biểu diễn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chấm dứt tình trạng hát nhép trên sân khấu. Việc này đã nhận được sự đồng thuận cao, không chỉ từ phía những nhà quản lý văn hóa mà cả với những người trực tiếp hoạt động biểu diễn, doanh nghiệp tổ chức biểu diễn.

AI - Tìm đâu ra người thật?

AI - Tìm đâu ra người thật?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang thay đổi cách sách đi từ tay tác giả đến bạn đọc từ khâu sáng tác và biên tập đến in ấn và marketing. Không phải ai cũng hoan nghênh sự thay đổi này, và quả thực là ngoài một số lợi ích nhất định, việc sử dụng AI tràn lan cũng đem lại nhiều vấn đề làm đau đầu các nhà xuất bản, đơn cử như việc con người để cho AI thay thế tác giả và biên dịch viên.

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Trong đám tang nhà thơ Đàm Khánh Phương tại nhà tang lễ Đức Giang hôm ấy, ngoài nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - có mặt và sau đó đọc điếu văn - tôi thấy không nhiều các nhà văn, nhà thơ khác đến đưa tiễn. Phương ít bạn, hay là khi khỏe mạnh, Phương đã có những điều làm bạn bè khó cảm thông?  

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Năm 2001, đạo diễn Steven Spielberg ra mắt bộ phim “A.I. - Artificial Intelligence”, kể về cậu bé robot David được lập trình để yêu thương vô điều kiện. Khi người mẹ nuôi bỏ rơi cậu giữa rừng, David bắt đầu hành trình 2000 năm đi tìm một ngày được sống bên bà. Khi những sinh vật tiến hóa đánh thức cậu giữa tàn tích băng giá, điều David xin không phải tri thức hay quyền năng, mà chỉ là một ngày được yêu thương.

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Động viên đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo luôn là một trong những chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa soi đường quy hoạch

Văn hóa soi đường quy hoạch

Gần đây, có hai sự việc nhận được khá nhiều sự quan tâm của dư luận, và vẻ bề ngoài, hai sự việc ấy không hoàn toàn liên quan tới nhau nhưng sâu trong bản chất, chúng lại có một điểm chung.

Sống để kết nối yêu thương

Sống để kết nối yêu thương

Sống là để kết nối những yêu thương, bởi cuộc sống có biết bao nhiêu điều đáng yêu mà chúng ta không thể kể tên hết được. Đó là một cảm nhận của người viết có được mỗi khi quan sát và lắng nghe từng thanh âm của cuộc đời. Dẫu biết hằng ngày vẫn xuất hiện cái ác, cái xấu nhưng còn có biết bao người tốt, bao hành động cao cả.

“Cái chết” của sách bìa mềm

“Cái chết” của sách bìa mềm

Cuộc cách mạng văn học hiện đại có sự đóng góp không hề nhỏ của sách bìa mềm. Những quyển sách bìa mềm được bày bán khắp mọi nơi với giá cả phải chăng đã đưa văn học đến với tất cả mọi thành phần trong xã hội.

Quyết liệt phát triển văn hóa

Quyết liệt phát triển văn hóa

Diễn biến mới nhất của việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 7/1/2026, đó là Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã có cuộc họp đầu tiên, trong tuần qua, với nhiều nội dung quan trọng.