Từ thuật cận công đến binh pháp "nở hoa trong lòng địch"

"Lấy đoản binh chế trường trận" - nghệ thuật quân sự Việt Nam được khởi phát từ kinh nghiệm trực đấu cá nhân trong võ Việt cổ xưa. Lối đánh áp sát, dùng đòn ngắn công phá các huyệt đạo của đối thủ, giải quyết được sự chênh lệch về tương quan lực lượng.

Trải qua bao cuộc chiến tranh vệ quốc, thuật "cận công" trong võ ta đã được tiên tổ nâng tầm trở thành một thứ "binh pháp" đặc dị, mang triết lý, hồn cốt của một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng cũng đầy sức mạnh phản kích trước bạo lực cường quyền.

Lối đánh của bên yếu

Võ sư - nhà nghiên cứu lịch sử võ thuật Nguyễn Mạnh Thắng giải thích: "Từ các đặc điểm nhân chủng của người Việt có thể trạng nhỏ yếu hơn so với người phương Bắc, trong đối kháng người Việt cổ lấy phương châm tránh né, không đối lực làm phương châm, dùng thân pháp bất ổn, bồng bềnh, linh hoạt, không bám đất làm cốt lõi.

Võ sư Nguyễn Mạnh Thắng minh họa thuật "cận công".
Võ sư Nguyễn Mạnh Thắng minh họa thuật "cận công".

Bằng những nhịp, bước nhỏ ngắn, lắt léo để di trượt, đảo đổ thân nhằm thoát đòn, rồi triệt chặn, tì ập, phá từ gốc đòn của đối phương, chớp cơ hội để đánh dũi, liên hoàn, đánh liên tục không cho địch định thần khi đã cướp được thế thượng phong nhập nội.

Lối đánh này nảy sinh từ vấn đề thể trạng nhỏ bé, yếu hơn kẻ thù nên không thể cho phép cuộc chiến diễn ra dài lâu. Không cho địch có khoảng cách để phát huy các trường lực công thủ lớn. Lối cận công này nhằm dứt điểm ngay, nên tính khắc sát rất cao"

 Vẫn theo ông Thắng, các môn võ có nguồn gốc Trung Hoa thường lấy khoảng cách xa, đoạn đường di chuyển dài để tạo lực cho đòn, điều này hoàn toàn khác với cách phát lực của võ ta. Đòn võ ta đánh ngắn, ở cự ly gần nên phải dựa trên thân pháp luồn đảo, vặn, trượt làm đà, tạo cơ hội để "nhập nội".

Lực đánh dựa trên cơ sở sự rung lắc cộng hưởng lực kình của toàn thân ở thời điểm tiếp chạm, kết hợp với các chuyển động vòng xoắn đảo chiều, nén tì, gằn dí vào đối phương. Phát lực từ sự xoắn vặn từ chân hông eo lưng vai... lan tỏa tới đầu quyền để cộng hưởng xung lực. Nó cho phép lực lớn, xoắn trong phạm vi hẹp của hai bên khi áp sát cận chiến.

Điều này phản ánh rất rõ trong cách đánh của võ Nhất Nam - (môn võ cổ xưa nhất của người Việt). Câu: "Quân Nhất Nam giấu ở cổ tay" - mô tả thuật liên hoàn công vào các huyệt đạo trọng yếu trên người đối phương bằng những đòn gật lắc cổ tay cực ngắn.

Thuật "cận công" còn đặc dị ở lối đánh tỳ chặn, kê kích đột phá tấn, phá hạ bàn đối thủ. Dùng đoản cước, lấy sự tinh khéo làm chủ để chẹn ngang các bước di chuyển bộ pháp của địch là một đối sách khôn ngoan.

Để khắc chế đòn tay tấn công vùng thượng, võ ta dùng các đòn gạt, tì, chặn, phá khớp, ngáng tấn để phá chân đế khởi phát lực của các đòn phía trên, gây hẫng đổ và trượt ngã. Trên quan điểm không trực đối với cường lực, thuật "cận công" của võ ta lấy việc phá hệ thống đồng bộ liên kết làm chủ.

"Thuật "cận công" trong trực đấu cá nhân giúp tạo thế quân bình giữa hai bên có tương quan lực lượng chênh lệch nhau quá lớn. Áp sát, thâm nhập sâu và núp vào các vùng vận động an toàn, khoảng trống rồi đối trả đòn, tiêu diệt đối phương... là cách cha ông ta đánh thắng giặc mạnh hơn mình. Sự vi diệu của thuật "cận công" là khả năng cơ động, công phá vào các điểm lõm, điểm âm yếu của đối thủ.

Các điểm lõm - âm này là điểm liên kết, là quãng giữa các cường lực hay điểm tập trung của đại binh, luôn tự sinh ra trong quá trình vận động, di chuyển. Nếu bị tấn công vào đây, sẽ phá vỡ sự liên kết, tính đồng bộ - thứ tạo nên sức mạnh của đối phương. Đây là cách đối phó cực kỳ hiệu quả với đại binh to lớn, cồng kềnh" - Võ sư Thắng cho biết thêm.

Võ sư Trịnh Hồng Minh - (Giám đốc Trung tâm bảo tồn di sản võ cổ truyền Việt Nam) giải thích thêm: "Qua hàng ngàn trận đánh tay đôi trên sa trường với giặc, các tuyệt kỹ của "võ ta" đã chứng tỏ tính hiệu quả khi phải đương đầu với lối đánh uy lực mạnh với đòn dài, vung rộng, tấn bám đất… của người phương Bắc.

"Bắt nhại" cách đánh của gà, các miếng đánh di chuyển ngược chiều đối thủ và phát các đòn ngắn vào tử huyệt như bộ hạ, yết hầu, mắt… giúp người yếu có thể hạ thủ kẻ địch to khỏe hơn mình. Lấy thẳng chế cong, lấy cong chế thẳng là một điểm rất đặc biệt trong võ thuật của người Việt. Thuật cận chiến của "võ ta" được rút ra từ máu xương của bao thế hệ người Việt trong các cuộc đối đầu với giặc".

Tinh diệu quân sự Việt

Từ kinh nghiệm trực đấu cá nhân trong võ ta, thuật "cận công" đã được nâng tầm thành nghệ thuật chiến tranh của dân tộc. Với địa hình sông núi xen kẽ, dốc hẹp và uốn khúc thất thường…, phương châm tác chiến dựa trên chiến thuật "cận công", cơ động nhanh gọn kiểu "xuất kỳ bất ý" được người Việt sử dụng trong tất cả các cuộc giao chiến quy mô nhỏ tới các đại chiến ở chiến trường.

Võ sư Trịnh Hồng Minh - Giám đốc Trung tâm bảo tồn di sản võ cổ truyền Việt Nam.
Võ sư Trịnh Hồng Minh - Giám đốc Trung tâm bảo tồn di sản võ cổ truyền Việt Nam.

Võ sư Nguyễn Mạnh Thắng nói: "Lịch sử nước ta được viết qua các cuộc chiến tranh. Nằm ở một vị trí địa chính trị rất đặc biệt, với địa thế trước mặt là biển, sau lưng là núi, không gian sinh tồn bị chia cắt phức tạp… nước ta ở thế khá bất lợi trong phòng thủ trước các cuộc xâm lăng với quy mô lớn của ngoại bang. Nhưng chính điều đó đã làm người Việt nảy sinh ra đối sách để giải quyết.

Nền quân sự của Việt Nam đã gây kinh ngạc cho thế giới và kẻ thù xâm lược, bởi một nghệ thuật chiến tranh vô cùng đặc sắc. Đó chính là cách đánh "bám lấy thắt lưng địch".

Nghĩa là áp sát đối phương bằng các mũi nhọn, chọc sâu, đánh thẳng vào "tung thâm" - (chiều sâu trận địa của đối phương) rồi phát tỏa, đánh từ tâm lõi đánh ra. Trong kháng chiến chống Mỹ, chiến thuật này được gọi là "nở hoa trong lòng địch", đã khiến quân xâm lược bạt vía kinh hồn. Lối đánh này phát triển bắt nguồn từ thuật "cận công" dựa trên yếu pháp "nhập nội" trong võ thuật cổ của người Việt

Võ sư Đào Hoàng Long (môn phái Nhất Nam) lý giải: "Tìm hiểu cách đánh mà tổ tiên ta đã vận dụng trong những lần đối đầu với giặc, có thể thấy "các cụ" thực tài tình khi biến điểm mạnh của kẻ thù trở thành điểm yếu. Chẳng hạn, quân đông kéo theo lượng ngựa xe, khí tài, lương thảo lớn…

Sự cồng kềnh, quá khổ của đoàn quân xâm lược trong thế đất chật hẹp, lầy lội, chia cắt của địa hình nước ta, đã trở thành "mồi ngon" cho các toán quân nhỏ Đại Việt triển khai mai phục đánh quấy rối, vòng sau đánh tập hậu, đánh vu hồi, đánh vào các điểm nối, mắt xích của đại quân, chặn nguồn tiếp lương, hoặc vận động tiềm nhập đánh thẳng vào trại chỉ huy của giặc…

Thuật áp sát cận chiến quy mô nhỏ khiến sinh lực địch bị tiêu hao, gây ra sự rối loạn, căng thẳng, lo lắng thường trực, hoặc buộc chúng phải xé nhỏ lực lượng căng ra để đối phó, không thể liên kết khi bị tấn công, hay co cụm phản ứng.

Những thói quen tác chiến nơi đồng bằng Hoa Hạ hay thảo nguyên rộng lớn, phát huy ưu điểm của kỵ binh hay lối đánh càn quét diện rộng… khi sang Đại Việt đã bị lối tác chiến áp sát, "xuất kỳ bất ý" của ta vô hiệu hóa".

Cùng chung nhận định, Đại tá Nguyễn Văn Tuấn, Phó tổng thư ký Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, đồng thời là nhà nghiên cứu lịch sử Quân sự bình luận: "Quân của Việt với lối đánh nhỏ, nhọn, cơ động nhịp ngắn, biến động nhỏ… gây ra những biến ảo khó lường. Yếu pháp "công để thủ"  - tức là phòng thủ dựa trên tấn công tiêu hao sinh lực địch, xé nhỏ đội hình đại quân địch, khiến ý đồ tập trung binh lực đánh lớn không thể thực hiện được" .

Theo ông Tuấn, chiến tranh "không quy ước", dàn trận dựa vào địa thế cùng với quân số nhỏ, cơ động, vũ khí nhẹ, đánh nhằm mục đích tiêu hao… đã khiến các chiến dịch lớn của quân địch bị phá vỡ về nhịp, kế hoạch cũng như sự tập trung. Lịch sử quân sự Việt Nam đã chứng minh, cách đánh này đã phát huy tác dụng trong hàng trăm cuộc đối đầu với xâm lược phương Bắc.

Chẳng hạn, tại các trận thủy chiến quân Đại Việt đã dùng thuyền lá nhẹ, cơ động, lách vào các đại binh thuyền tàu lớn và phá liên kết. Khi đối đầu với kỵ binh của đế quốc Nguyên Mông, quân ta tận dụng địa hình hẹp, dốc, nước chảy xiết hay đầm lầy... dụ địch ra đánh ở tầm gần với các thế bẫy cận chiến, đã vô hiệu hóa vó ngựa Mông Cổ. Việc đánh úp kho lương, hậu cần hay các lối đánh hậu cứ cũng làm đứt gãy nhiều các tiền quân hỏa lực lớn của địch, khi giao chiến với quân đội Việt Nam.

Trong chiến tranh hiện đại, quân ta thường sử dụng vũ khí cá nhân gọn, nhẹ, ngắn, dễ cơ động khi hành quân hay vận động thâm nhập để thực hiện lối đánh áp sát, bám dính đối phương để tiêu hao sinh lực địch. Cách đánh đó giúp vô hiệu hóa được các "trường binh" của địch là những phương tiện chiến tranh, khí tài hiện đại nhưng cồng kềnh, khó di chuyển ở địa hình phức tạp.

Chiến thuật phản công hay tấn công để phòng thủ bằng các trung đội, tiểu đội mũi nhọn nhỏ, cơ động, đánh xuyên phá quấy trung tâm, tạo nên sự quân bình lực lượng giữa hai bên.

Các quy ước giao chiến truyền thống ở Trung Nguyên hay Tây Âu đều thất bại dưới lối đánh phi truyền thống, phi quy ước dựa vào địa hình, đậm chiến thuật "cận công", bất cân xứng của quân đội ta. Biến nhược điểm thành ưu điểm, đó là sự tài tình của ông cha ta trong nghệ thuật quân sự hay võ công. 

 Thuật "cận công" của dân tộc Việt là một di sản kết tinh của nhiều yếu tố như văn hoá, tư tưởng, thực tiễn, địa lý, tâm sinh lý, là sức mạnh tự vệ của một dân tộc quật cường, chưa từng khuất phục trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào.

Trung Hiếu - Đại Lâm

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.