Thu thuế nhưng không công nhận đất lấn chiếm
Thay thế Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1992, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định đối tượng chịu thuế là: đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, bao gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm...
Diện tích đất chịu thuế là diện tích sử dụng thực tế. Về mức thuế suất, luật quy định đối với diện tích đất trong hạn mức sẽ áp thuế suất 0,03%. Tuy nhiên, để góp phần cùng với các chính sách thuế khác như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và các biện pháp khác hạn chế đầu cơ đất đai, Luật quy định: đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức nhưng không quá 3 lần thì áp thuế suất 0,07%; phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức thì áp thuế suất 0,15%.
Còn đối với đất sử dụng không đúng mục đích, chưa sử dụng theo quy định cũng tăng mức thuế suất từ 0,1% lên 0,15%; riêng đối với đất lấn, chiếm thuế suất là 0,2% và không áp dụng hạn mức. Tuy nhiên, luật này cũng nêu rõ: "Việc nộp thuế không phải là căn cứ để công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người nộp thuế đối với diện tích đất lấn, chiếm".
Theo lãnh đạo Bộ Tài chính, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được ban hành nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ về đất và khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh. Luật khắc phục những mặt hạn chế của chính sách thuế nhà, đất hiện hành, nâng cao tính pháp lý của pháp luật về thuế đất trên cơ sở bổ sung mới và kế thừa các quy định còn phù hợp...
An toàn hơn cho hoạt động tín dụng, ngân hàng
Có hiệu lực từ 1/1/2011, Luật Các tổ chức tín dụng đã không đưa "các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng" vào phạm vi điều chỉnh, nhưng lại mở rộng phạm vi điều chỉnh về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các tổ chức tín dụng. Luật Các tổ chức tín dụng thay đổi tiêu chí xác định một tổ chức là tổ chức tín dụng bằng việc thay đổi nội hàm của khái niệm "hoạt động ngân hàng" (bao gồm một trong ba hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán thay vì phải đồng thời thực hiện cả ba hoạt động trên).
Ranh giới phân biệt hoạt động giữa ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng cũng được làm rõ hơn. Theo đó, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được phép nhận tiền gửi của dân cư (của các cá nhân), không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Quy định này phù hợp với thông lệ áp dụng tại hầu hết các nước, một mặt giảm bớt được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, mặt khác cho phép các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được mở rộng phạm vi cung ứng các dịch vụ ngân hàng do các quy định về an toàn sẽ được áp dụng ở mức độ thấp hơn...
Cũng có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước về áp dụng một số biện pháp đặc biệt để xử lý các tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng như mua cổ phần của tổ chức tín dụng…
Hoạt động cho vay của Ngân hàng Nhà nước đã được quy định rộng hơn trong trường hợp cho vay đặc biệt: Ngân hàng Nhà nước được cho vay không những đối với các tổ chức tín dụng đã "lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả" như quy định trong Luật hiện hành mà cả đối với tổ chức tín dụng hoạt động bình thường nhưng "có nguy cơ mất khả năng chi trả do các sự cố nghiêm trọng khác" để bảo đảm có thể can thiệp sớm hơn, hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng... Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết: Ngân hàng Nhà nước Việt