Tranh của ông chính là đời sống của ông, dữ dội như thác đổ, nồng nàn như sóng biển trào dâng, và đôi khi có những khoảng lặng ngọt ngào, trữ tình như dòng sông êm ái. Nhìn bức họa khiến cho người ta day dứt, bâng khuâng và không tránh khỏi nỗi buồn ám ảnh, đeo bám. Tranh của ông cũng giống như con người ông khiến cho người ta không khỏi lạ lẫm, tò mò và muốn khám phá.
Trong địa hạt nghệ thuật của mình, ông đến với hội họa muộn hơn cả. Truyện ngắn, bút kỳ, kịch, thơ và âm nhạc… đều chưa đủ để giải tỏa nguồn năng lượng khổng lồ lúc nào cũng như nham thạch núi lửa đang sôi sục, cuộn chảy, quẫy đạp, gào thét trong mình. Ông đã tìm đến với hội họa để được đối diện với chính mình. Từ lâu, ngay từ năm 2008, các bằng hữu và tâm giao khi ngắm các bức họa đầu tiên của ông đã khám phá một con người mới của nhà văn Hữu Ước.
Khi đến với hội họa, ông cất đi con người văn chương thi phú, cất con người âm nhạc để chuyên tâm thành một họa sĩ, phải vậy chăng? Hay chính là trong tác phẩm hội họa của ông, một nhà văn, nhà thơ, một nhạc sĩ đều lần lượt xuất hiện. Tranh của ông có sự trừu tượng của tư tưởng, chủ đề, có cả âm nhạc với những nốt cao của đợt sóng lòng không yên ả, và có những nốt trầm của mặt hồ gợn sóng âm ỉ.
Ông có cái uy của một vị tướng, có con mắt sắc sảo của người làm quản lý, có sự mạnh mẽ của người làm chuyên môn, có sự gần gũi, ân cần mà phiêu bồng của người nghệ sĩ. Ai đã từng tiếp xúc với ông đều phải công nhận trên tất thảy là một người nghệ sĩ trong con người chiến sĩ. Con người nghệ sĩ này được thể hiện ở sân khấu, điện ảnh, truyện, thi ca và âm nhạc nhưng rõ rệt nhất lại ở hội họa. Chìm đắm trong tác phẩm hội họa của ông, ta bắt gặp ở đấy một nghệ sĩ rõ nét nhất.
Những câu hỏi cho cuộc đời bộn bề, những bất đồng, những giông gió, những trải nghiệm, những ưu phiền, những đớn đau xâm chiếm, những mảng tối và sáng, những trăn trở suy tư, những vật vã len lỏi, cả mớ hỗn độn bòng bong ngổn ngang của đời sống xã hội trong ông không ngôn ngữ nào có thể diễn tả thì trên toan giấy trắng với bảng màu đối lập được ông thể hiện qua nét bút dồi dào nội lực.
Có lẽ, cú chuyển mình ngoạn mục này không chỉ mang đến cho ông cảm giác thăng hoa để giải tỏa nguồn năng lượng mà còn ảnh hưởng lây sang các người bạn nghệ thuật. Nghệ thuật là sự ám ảnh, khiến cho những người bạn không thể không nghĩ, không thể không làm, không thể không nói. Trong giới nghệ thuật đã có quá nhiều người cần phải viết hay nói điều gì đó về ông. Trong thi ca có Phạm Tiến Duật, Nguyễn Quang Thiều, Hoàng Nhuận Cầm… Trong hội họa có Thành Chương, Lê Thiết Cương… với âm nhạc có Hồng Đăng, Phạm Ngọc Khôi.
Những người bạn nghệ sĩ ai nấy đều hồ hởi khi nhắc đến ông. Và, trong lưu bút đó có một người mà khi nhắc đến ông trân trọng và không thôi xót xa đó là nhà thơ Phạm Tiến Duật. Khi nhà thơ Phạm Tiến Duật còn sống đã tặng riêng ông một bài thơ, bấy lâu nay ông vẫn treo trang trọng ở căn phòng làm việc của mình. Bài thơ "Họa sĩ" khắc họa đầy đủ về chân dung người Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới - Trung tướng, nhà văn Hữu Ước:
Tôi nhìn anh với cái tạp dề xanh
Tay cầm bay miết trên tấm toan to rộng
Tấm toan ấy hay là cuộc sống
Ơi người họa sĩ của trần gian?
Này Thân cò hay ấy người dân cơ cực,
bần hàn
Bao thế kỷ chơi vơi đồng lúa nước
Chỉ hai chân thôi làm sao sống được
Cò phải thành siêu thực bốn năm chân
Này Người và quỷ giữa chốn
phong trần
Lửa thái cực đỏ hồng một khối
Chỉ một khối thôi mà thiện ác hai vai
buộc trói
Thân người hai đầu kia, một quỷ
một người
Vòng đời kia xoáy lốc đất trời
Cái màu lạnh đến ghê người màu lạnh
Mà màu nóng ít thôi, mà cơn buồn
ngỡ tạnh
Cái thiện cuối cùng sẽ chế ngự
dương gian
Với tạp dề xanh anh đứng giữa trần gian
Và với cái bay kia anh như người
khai phá
Người ta giàu có xây nhà. Còn anh
vất vả
Xây ngôi đền vô hình của cái đẹp giữa
dương gian.
(Những chữ in đậm trong bài thơ là tên tác phẩm hội họa của nhà văn Hữu Ước)
Bài thơ được cố thi sĩ sáng tác vào cuối tháng 5/2007, nghĩa là ngay sau khi những bức họa của Trung tướng, nhà văn Hữu Ước đã bắt đầu trình làng. Có lẽ tâm hồn thi ca của người bạn nghệ thuật luôn có sự đồng điệu, dễ đến, thấu hiểu, cảm thông, san sẻ với nhau hơn. Hữu Ước nói lên tiếng lòng của mình bằng chủ đề, hình khối, màu sắc, đường nét trong hội họa. Nhà thơ tri ân với bạn mình bằng câu chữ của thi ca. Những tình yêu lớn, tình tri kỷ, tri âm được liên kết và nở hoa trong tác phẩm.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã gửi mình nơi cát bụi phương xa từ lâu lắm nhưng bài thơ của ông tặng Trung tướng, nhà văn Hữu Ước luôn luôn được treo ở vị trí trang trọng trong phòng tranh. Xem tranh của ông, đọc thơ Phạm Tiến Duật viết tặng ông càng hiểu sâu thêm về con người tài hoa đa cảm.
Các bức vẽ của ông luôn có những cái tên khiến người ta không khỏi ngơ ngác, một chút đau đớn len lỏi, một nỗi buồn man mác xâm chiếm, nhức nhối: "Thân cò", "Hoa khôn", "Hoa dại", "Chọi trâu", "Hoa xương rồng", "Hoa xương rồng châu Phi", "Hoa hồng non", "Hoa hồng gai", " Đơn côi", "Bụi mặt trời", "Nhũ thạch", "Lạc đàn", "Trường lưu thủy", "Biển đời", "Rừng Trường Sơn", "Thời gian", "Hoa gạo"…
Nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm mở lời khi nói về mảng hội họa trong kho nghệ thuật của nhà văn Hữu Ước: "Nếu được anh tặng, tôi sẽ chọn ngay ba bức tranh mà không cần suy nghĩ - đó là ba bức: "Thân cò", "Thân già" và "Lạc đàn". Ở ba bức tranh này, họa sĩ Hữu Ước không vẽ mà "làm thơ" bằng đường nét và màu sắc". Nhà thơ nói: "Tôi đã xem tranh bằng mắt, sau đó thì nhắm mắt lại để xem bằng trái tim. Và cảm nhận được một điều: Tranh của anh còn buồn hơn thơ của anh. Đó là một nỗi buồn có thể hiển hiện ngay trước mắt, một nỗi buồn có hình, có khối, một nỗi buồn có thể sờ mó được… nhưng lại không cất giấu vào đâu được!".
Cuối cùng nhà biên kịch đã phải thốt lên: "Thật trớ trêu, Hữu Ước định dùng những khung tranh làm nơi ẩn nấp cuối cùng của một con tằm sau khi đã rút hết ruột, nhả hết tơ - nhưng cũng chính tại nơi đây, lại là nơi anh không thể ẩn nấp. Tất cả hồn nhiên phơi bày ra bằng hết".
Chiêm nghiệm những bức tranh của ông, tất cả những ầm ào, hỗn độn của đời sống được người họa sĩ lột tả trong các bức tranh. Rồi, người ta không thể đặt ra câu hỏi: Tại sao "Con cò" lại có đến 4, 5 chân? Đó là nỗi bần hàn đói khổ của người dân cơ cực, của tầng lớp nghèo khổ trong xã hội. "Thời gian" mang đến cho ta nhiều điều nhưng rồi cũng lấy đi nhiều thứ. Quy luật của thời gian với vòng xoay: sinh - lão - bệnh - tử không ai thoát khỏi và không ai chống chọi được. Những cánh chim bay về phía trời rộng mênh mang mà sao lại "Lạc đàn"? Đó là "Biển đời" mênh mông với đầy đủ nhân tình thế thái, đắng đót mặn ngọt chua cay của cuộc đời. Nào "Chọi trâu" cuộc chiến sinh tử để giành giật cuộc sống, thắng thua, được mất ở cuộc đời lồ lộ, hiển hiện qua nét bút phóng khoáng sinh động của người họa sĩ, chiến sĩ.
Một điều nữa, trong những cơn say hội họa, ông thường tìm đến với hoa. Tại sao lại là hoa? Bởi hoa tượng trưng cho những gì đẹp đẽ nhất nhưng cũng mong manh nhất. Nhưng hoa của ông trong hội họa không phải hoa sặc sỡ sắc màu, đẹp long lanh cắm lọ mà hoa chịu sự thử của lửa, của màn đêm, của tất cả va đập lên thác xuống ghềnh của cuộc đời đầy bão tố chưa khi nào bình yên - loài hoa xương rồng.
Hoa mong manh gồng mình chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, hoa xương rồng - loài hoa thể hiện sự kiên cường bất khuất, dai dẳng như con người khi nào cũng vươn lên để chống chọi với những điều khó khăn nhất. Thế rồi loài hoa đấy vẫn kiêu hãnh nảy mầm và nở hoa ngay cả khi những đồng loại của mình đều bỏ cuộc đầu hàng. Con người ông chất chứa suy tư và trăn trở nên chủ đề trong tác phẩm hội họa của ông cũng kéo theo cảm giác của người xem phải cùng ông chiêm nghiệm, nào thì: "Hoa khôn", "Hoa dại", "Hoa hồng gai", "Hoa gạo", "Hoa xương rồng"… Chao ôi! Hoa hay là người? Người hay hoa? Tất cả cài cắm đan xen thật trừu tượng nhưng cũng thật trần trụi phơi bày.
Trong tác phẩm hội họa của ông có nắng, có gió, có bão, có mưa. Nếu đã là nắng thì chắc hẳn nắng đó phải như một chảo dầu sôi sục đổ lửa. Nếu là gió, gió đó phải là những trận cuồng phong dữ dội. Nếu là bão, bão đó đủ mạnh để cuốn phăng, nhấn chìm đi tất cả. Nếu là mưa, cơn mưa đó chính là nước mắt trong lòng vị tướng với đầy đủ vị chua, cay, mặn, ngọt của cuộc đời chưa khi nào bình yên. Vâng, chắc chắn rồi, tranh của ông là chính con người ông.
Tôi không phải là một họa sĩ để bình tác phẩm hội họa của ông, nhưng tranh của ông vẽ ra để giải tỏa nỗi lòng sâu thẳm của chính ông, để cho tất cả chúng ta cùng khám phá, thưởng thức, nghĩ suy. Không ai ngăn được nguồn năng lượng khổng lồ và sự thăng hoa của người họa sĩ cũng như không ai ngăn được chúng ta nghĩ và cảm nhận gì về tranh của con người bản lĩnh đa tài này.
Nhiều người đến triển lãm tranh của ông với những tâm thế khác nhau. Câu chuyện này tôi nghe một họa sĩ kể lại. Lê Thiết Cương một nhân vật đình đám của hội họa đương đại Việt Nam khi rời khỏi phòng tranh của Trung tướng Hữu Ước ra về đã có một người điện thoại bình phẩm về tranh thế này, thế khác. Họa sĩ Lê Thiết Cương đã trả lời người đó ngay: “Ông là nhà thơ, khi tôi đọc thơ của ông thì tôi phải lấy tiêu chí của một người làm thơ. Nhưng bỗng dưng, giả sử tôi bắt quả tang ông đi chụp ảnh, tôi xem ảnh của ông thì không bao giờ tôi lấy tiêu chí của một người nhiếp ảnh chuyên nghiệp tôi bình phẩm ảnh của ông cả”.
Cho nên xem tranh của anh Ước, họa sĩ đã thốt lên: "Xem tranh của Hữu Ước thấy ông sống trong một đời sống khác". Đời sống ở đây ta hiểu là sự mới mẻ, sự dài rộng, sự phong phú của nghệ thuật. Biết cách thưởng thức cuộc sống bằng một điểm nhìn khác. Đến một mức độ nào đấy thì không có ai trên đời này vẽ bằng cái bút, bằng cái màu, bằng cái toan cả.
Cuối cùng, làm nghệ thuật nói chung và làm hội họa nói riêng là bằng chính đời sống của mình. Phải có một đời sống, một số phận, một lịch sử, một quá khứ, một trải nghiệm, phải hạnh phúc đến đỉnh điểm, phải bất hạnh đến tận cùng, phải được, phải mất, phải thăng trầm thì mới bay trong nghệ thuật sáng tác. Hữu Ước đã sống đúng như thế. Tranh của ông phản ánh chính con người ông tài hoa nhưng cũng không ít bão tố