Cái thứ "nước ngược" uống vào người ta cứ thấy lâng lâng, phấn chấn hẳn lên. Bởi thế, thuở ban đầu mục đích sử dụng nó chỉ bó gọn trong tiệc vui đại hỷ và liều lượng cũng chỉ ở mức độ nhất định. Đối tượng sử dụng cũng hạn hẹp trong thiểu số người, chứ không phải tùm lum như bây giờ (đàn ông, đàn bà, trẻ già đều tưng bừng… rượu.
Bất kể thời gian, không gian; bất kể vui, buồn sầu não đều giải tỏa bằng rượu. Rượu vào, lời ra, gây nên bao cảnh tan cửa nát nhà, và thậm tệ hơn, án mạng đã từng xảy ra ngay trong tiệc rượu, để đến nỗi vào tù, ra tội, bao phận hồng nhan âm thầm lẻ bóng… chung quy cũng chỉ vì rượu).
Rượu được điều chế, chưng cất chủ yếu bằng lương thực: nếp, gạo, đậu, khoai, sắn… và một số loại trái cây đặc biệt. Vì thế, người ta ví rượu như cao gạo là vậy. Và, cũng vì thế, thời bao cấp, lương thực khó khăn, Nhà nước cấm tự do nấu rượu là lẽ đương nhiên.
Một vài câu chuyện về rượu liên quan tới tác giả.
Tôi tập uống rượu
Cả nhà tôi trước đây không ai biết uống rượu. Cha tôi, đã từng buôn bán ngược xuôi, vậy mà cả cuộc đời ông chưa bao giờ uống nổi một ly rượu nhỏ. Thế hệ anh em chúng tôi cũng thế. Ưa ngọt bùi chứ chả thích đắng cay.
Thời tôi đi lính (đầu thập niên 60 thế kỷ trước), 4 năm đóng quân ở Tây Bắc, mùa xuân đến, ban nở trắng rừng, chúng tôi lại rủ nhau vào bản đón tết vui xuân với đồng bào dân tộc. Xem thi kéo co, tung còn… Đám lính chúng tôi bàn nhau đăng ký tham gia tiết mục thi uống rượu cần.
Chiếc bình rượu bằng sành để giữa bàn. Những chiếc cần cong cong cắm vào miệng bình, xuyên qua những lớp lá dong ép kín. Ba cô gái váy đen, áo trắng, đăng ten xanh có đính hàng cúc bạc ở giữa bó gọn lấy thân hình thon thả. Cô nào đầu cũng đội khăn piêu sắc màu sặc sỡ, duyên dáng bước vào mỗi người cầm một cần rượu. Pháo tay nổi lên cùng tiếng reo hò: "Mời bộ đội, mời các anh bộ đội vào vít cần đi… Vít cần đi…".
Lính ta với nhau, nói cứ như "rồng cuốn", đã bàn và nhất trí cả rồi, vậy mà, tới lúc đó chẳng anh nào dũng cảm tiến lên. Một anh bạn người Thái hích vào vai tôi: "Nhanh vào vít cần đi. Phong tục bản ta đấy. Không dám vào là bản ta buồn đấy. Các noọng (em) buồn đấy. Và lần sau đừng có vào bản nữa".
Được anh em khích lệ, tôi "liều mình" tiến lên, đứng xen giữa hai cô gái. Thấy vậy, hai đồng đội của tôi cũng tiến theo. Tiếng reo hò và pháo tay nổi lên. Một anh trai bản, đoán chừng là Bí thư đoàn đứng ra làm trọng tài, dõng dạc tuyên bố:
- Cuộc thi sẽ uống theo vòng quay của kim đồng hồ. Người trụ lại cuối cùng là người chiến thắng. Một vòng quay mỗi người phải uống một cốc.
- Anh ta giơ cao chiếc cốc nhựa to hơn cái chén vại ta vẫn thường gặp ở các quán bán nước chè (trà) thời đó. Tôi bỗng thấy nổi da gà, thầm nghĩ: - "Nguy to rồi! Từ cha sinh mẹ đẻ tới nay, chưa từng uống một ngụm rượu, nay làm cả cốc thế kia, có mà quên cả lối về". Nghĩ vậy, song lại tự trấn an: "Đàn bà con gái người ta còn dám thi gan. Chẳng lẽ chí nam nhi lại thua kém họ. Cứ coi đây là cuộc tập uống rượu, sợ gì!".
Thế là sau màn thử cần, vai chạm vai, đầu chạm đầu, chưa biết vị rượu ra sao mà tôi đã thấy mặt nóng ran. Thú thật, đó là lần đầu tiên tôi được chạm vào vai con gái. Đỏ mặt, tía tai là lẽ thường tình. Rốt cuộc, tiết mục thi uống rượu cần hôm ấy cả ba người lính chúng tôi đều phải rời vòng quay sớm. Thua cuộc mà vui như tết. Ra về cứ thắc thỏm đợi chờ, mong sớm tới mùa tết năm sau.
Tôi lại tập uống rượu
Ba mùa tết sau cái cuộc "đọ rượu" với các cô gái miền sơn cước, tôi đã có mặt ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, địa bàn bám trụ của cụm tình báo chiến lược chúng tôi, tại cửa ngõ đông - bắc Sài Gòn, thuộc tỉnh Bình Dương. Rơi ngay vào "vùng trọng điểm" về rượu. Nghe nói, ở Nam Bộ người ta uống rượu "siêu" lắm.
Có một huyền thoại: "Bốn cô gái Nam Bộ tựa vào gốc quít. Thoáng chốc đã trôi veo một lít, vậy mà vẫn chê ít". Chả hiểu thực hư ra sao, nghe mà ớn lạnh, phục sát đất! Ngẫm lại, mình tự biết mình, dẫu đã qua "rèn luyện, thử thách" thời còn ở Tây Bắc, song ngày đó là rượu cần, còn bây giờ là rượu đế "năm cân rượu cần không bằng một cân rượu đế".
Năm ấy, tôi được giao nhiệm vụ đi khảo sát để xây dựng căn cứ dự bị, cách căn cứ chính chừng một giờ đi bộ. Thời đó, Mỹ mới vô, họ còn đang nghe ngóng, thăm dò chiến trường nên tình hình chưa tới mức căng thẳng. Hàng ngày, cuối giờ chiều là đó đây lại ơi ới gọi nhau nhậu. Nhậu thời đó đơn giản lắm. Mấy hộp cá mòi hoặc mấy con cá khô nướng lên là cứ trôi veo hàng lít.
Tôi tìm tới căn cứ của cán bộ xã lúc đó chừng 5 giờ chiều. Cuộc nhậu vừa tiến hành được ít phút. Không khí có vẻ rôm rả lắm, vì nghe nói hôm đó anh em du kích bẫy được mấy con cheo. Thấy tôi vô, chưa biết tìm gặp ai và có việc gì, người "chủ xị" (đứng đầu cuộc nhậu, cũng là nhân vật tôi cần gặp) vẫy vẫy tôi: - "Xáp vô đi chú em, làm một chén, bữa nay tụi này có mồi rất đặc biệt". Nghe cụm từ một chén, tôi bỗng toát mồ hôi. Vả lại, mới vào chưa hiểu phong cách sống Nam Bộ, tôi đáp lời: "Dạ… Xin mời anh Hai và mấy anh cứ tự nhiên. Em đã nhậu và ăn cơm rồi". Miệng nói vậy, song thực tình trong bụng đang đói meo, nói chi tới nhậu nhẹt.
- Ờ!... Vậy, nếu có việc chi, hãy chờ chút xíu nghen.
Cái chút xíu ấy là cả tiếng đồng hồ sau. Khi tàn cuộc nhậu thì vị chủ xị đã say xỉn và quên béng chú em đang thắc thỏm đợi chờ.
Một tuần sau tôi trở lại. Sự việc diễn ra như cũ. Người anh nuôi (cấp dưỡng) nói nhỏ với tôi: "Hôm nay chú em phải sáp vô cùng nhậu. Ngồi kế với anh Hai. Cần chi thì tranh thủ mà nói". Tôi thật thà đáp: "Dạ! Nhưng… Nhưng em không biết nhậu". "Không uống được nhiều thì uống ít. Miễn là có cơ hội…". Tôi làm đúng như chỉ dẫn của "quân sư". Khi cầm bát rượu đưa cho tôi, người chủ xị ngỡ ngàng: "A! Lại chú em hôm rồi. Có việc chi mà tìm qua (anh, tôi, tao)?". Tôi như mở cờ trong bụng: "Dạ!... Em tới xin anh Hai cho đơn vị em xây dựng căn cứ bám trụ ở đây". "Bám trụ hả? Để coi…". "Dạ… em có giấy giới thiệu của…".
"Khỏi cần! Về xây dựng căn cứ đánh địch thì cần chi phải giấy tờ. Qua xem lực lượng tụi bay có bao nhiêu để chỉ chỗ cho phù hợp". "Đơn vị em chỉ có mấy chục người thôi". "Vậy hả! Thế thì ngon rồi. Qua sẽ cho mượn một căn cứ cũ, tạm thời ở đó rồi xây dựng cái mới". Trời ơi! Tôi thầm reo lên, muốn ôm chầm lấy người chủ xị kia cho thỏa nỗi lòng. Thật không ngờ nhiệm vụ được giao tôi lại hoàn thành một cách ngon lành như vậy.
Trên đường về căn cứ tôi đi như bay, ngập tràn niềm vui và những ý nghĩ thật ngộ nghĩnh: "Rượu muôn năm! Rượu thay giấy giới thiệu, thay giấy thông hành". Thế là từ đó những cuộc nhậu do anh em đơn vị tổ chức tôi đều hăng hái tham gia, không còn đóng vai "họ nhà chuồn" nữa.
Cuộc rượu nhớ đời
Cuối năm 1969, chiến trường Đông Nam Bộ nằm trong trọng điểm đánh phá của địch. Để giữ vững liên lạc với các lưới điệp báo nội thành, đơn vị chúng tôi chuyển địa bàn bám trụ về miền Tây Nam Bộ, thuộc xã An Phước, Châu Thành, Bến Tre. Về đồng bằng là được sống gần dân, thường xuyên tiếp xúc với dân. Căn cứ của chúng tôi xây dựng trong rừng dừa (khu vườn cũ của dân. Vì bom, pháo mà phải ra ven đồng sinh sống). Nơi ven đồng, ban ngày địch kiểm soát. Ta chỉ hoạt động về đêm.
Hằng ngày, cỡ 5 giờ chiều, khu vực dân sinh sống thật đông vui. Chúng tôi thường xuyên phải ra đó để gặp gỡ cơ sở bí mật nắm tình hình, nhờ bà con mua lương thực, thực phẩm, thuốc men… Gặp dân, chắc chắn không trốn được cái khoản nhậu. Nhất là vào mùa nấm mối, cái thứ mồi nhậu hấp dẫn hơn cá thịt. Người người nhậu, nhà nhà nhậu (cố nhiên là trừ trẻ nhỏ). Tôi "lên tay" cái khoản nhậu từ đây, từ ngày về quê dừa Đồng Khởi.
Năm 1970, chiến trường sông nước Bến Tre vẫn còn dễ thở, thi thoảng địch mới mở một trận càn lấy lệ. Nhân dịp ngày Quốc tế Lao động 1-5, ta và địch đều tuyên bố ngưng chiến. Anh em chúng tôi rủ nhau vượt sông Ba Lai thăm cánh Tám Trực (trinh sát vũ trang). Chương trình đã được thông báo từ hôm trước.
Số là ngày đoàn tiền trạm chúng tôi từ Giồng Trôm về An Phước có ghé qua chỗ Tám Trực để nắm tình hình. Thấy anh em quá nghèo vũ khí, chúng tôi bàn và thống nhất tặng đơn vị khẩu carbin chiến lợi phẩm chúng tôi thu được ở chiến trường miền Đông. Anh em mừng lắm. Quả là cho tiền bạc không quý bằng cho đạn cho súng. Lúc chia tay, Tám Trực tha thiết đề nghị khi nào ổn định căn cứ, sẽ trở lại Phước Thạnh nhậu với nhau một chầu.
Hai căn cứ cách nhau chừng nửa giờ đi bộ, kể cả thời gian vượt sông bằng xuồng ba lá. 5 giờ chiều tới nơi. Bước vào lán, đã nghe tiếng Tám Trực: "Mấy em kiểm tra lại coi, đã đủ cơ số chưa". "Dạ thưa anh Tám, còn thiếu một cơ số". “Cho người kiếm ngay. Phải đảm bảo trăm phần trăm". Tôi thầm nghĩ, chắc đang chuẩn bị đạn để sau ngày hưu chiến là nện nhau đây.
Nửa giờ sau, "trận địa" được triển khai ngay trong chiếc lán gọi là "phòng họp" của đơn vị. Đủ sức chứa cả chủ lẫn khách 14 người. Trải áo mưa ngồi dưới đất. Các món nhậu được tới tấp bê lên. Đám khách chúng tôi đều ngỡ ngàng trước "trận địa" đặc sản "cầy tơ năm món". Thì ra nghe tin chúng tôi sang, anh em đi xin một con cầy (chó) tới mười mấy cân. Ở Nam Bộ hình như không có lệ bán chó. Có nhà nuôi cả bầy. Ai ăn được thì cho ăn chứ không bán.
Món cuối cùng anh em bê lên là một bao tải nặng chịch. Khi mở ra, cả đám khách chúng tôi, nếu ai yếu tim chắc sẽ ngất xỉu. Đó là 14 bịch nilon đựng rượu bày ra. Đến lúc này tôi mới vỡ lẽ cái từ tiếng lóng của anh em. Thì ra 14 người mà rượu mới có 13 lít là thiếu một cơ số. Hoảng quá, Năm Tuyến trong đoàn chúng tôi phải dàn xếp "cơ số" với gia chủ với lý do trong đoàn có 2 người đau bao tử, tửu lượng cả đoàn đều thấp. Cò cưa mãi, cuối cùng thống nhất là cơ số 10, bớt đi 4 lít.
Cuộc nhậu hôm đó thực hiện theo quy chế "cưa đôi", có nghĩa là mỗi vòng mỗi người nửa bát. Tôi không còn nhớ hôm đó mình chịu được bao nhiêu vòng quay. Chỉ biết rằng, gần trưa hôm sau tỉnh dậy, đã thấy mình đang ngủ dưới hầm tại căn cứ An Phước. Khủng khiếp quá. Quả là một trận rượu nhớ đời. Mấy ngày hôm sau vẫn còn lừ đừ như người ốm dậy. Thử hỏi, nếu như lần ấy, địch phá thỏa thuận hưu chiến, đưa quân càn vào căn cứ thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra đối với tôi. Cái gì quá cũng dở, nhất là rượu