Sào đáy bến sông xưa

Với hàng ngàn con sông, suối, kênh, rạch đan dày trên đất Việt, nó sẽ để lại bao kỷ niệm vui buồn cho những thần dân nơi nó trôi qua.

Với tác giả bài viết này, ngoài hai con sông: sông Đà và sông Hồng – ranh giới phía Đông Bắc và Tây Bắc, đất Hà Tây với Phú Thọ đã khắc ghi bao kỷ niệm từ thuở thiếu thời cho đến ngày tòng quân lên đường chiến đấu.

Còn có một dòng sông thứ ba, dòng Ba Lai máu lửa một thời ở quê dừa Đồng Khởi – Bến Tre, đã gắn bó với tôi và đơn vị của mình tới một phần hai con giáp (năm 1969 tới ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước). 

Dòng sông ấy chỉ dài trên năm chục cây số. Cuộc viễn du của nó trọn vẹn trên đất Bến Tre. Là một nhánh của sông Tiền, khởi nguồn từ xã Tân Lợi, băng qua các xã của huyện Châu Thành, xuyên qua kênh Chẹt Sậy về đất Giồng Tôm và kết thúc ở cửa biển (cửa Ba Lai).

Đón Tết trong cứ.
Đón Tết trong cứ.

Thời chúng tôi về xây dựng căn cứ bám trụ ở cụm tình báo chiến lược H67 tại xã An Phước, huyện Châu Thành, một xã nằm bên tả ngạn sông Ba Lai. Đối diện bên hữu ngạn là xã Phước Thạnh, địa bàn giáp ranh với thị xã Kiến Hòa. 

Dòng sông thanh bình lắm, bởi địch lo đối phó chiến trường Đông và Tây Bắc Sài Gòn. Qua lại đôi bờ vẫn bằng xuồng ba lá. Nước triều lên, dòng sông tím ngát một màu bởi bạt ngàn những hoa lục bình nổi trôi. 

Nước ròng, chúng tôi kéo ra sông buông chài, giăng lưới chặn các cửa rạch để bắt tôm, cá cải thiện đời sống đơn vị. Dòng sông đã nuôi dưỡng, cưu mang chúng tôi và trở thành lá chắn mỗi khi địch càn vào An Phước là đơn vị bùng sang căn cứ dự bị ở Phước Thanh. Địch rút quân lại trở về.

Sự thanh bình chẳng được bao lâu thì chiến trường đồng bằng sông Cửu Long sôi động trở lại. Bến Tre đặc biệt là các xã thuộc phía Nam huyện Châu Thành, trở thành trọng điểm tiến công bằng các trận càn lớn với thủy lục không quân tăng cường tối đa nhằm cắm đồn bót sâu trong vùng giải phóng. 

Rừng dừa các xã ven sông tan hoang bởi bom, pháo hủy diệt; bởi kế hoạch khai quang, dồn dân vào ấp chiến lược; phong tỏa các cửa ngõ ra vào căn cứ nhằm ngăn chặn tiếp xúc giữa quân và dân, thực hiện âm mưu thâm độc “tách cá khỏi nước”. 

Đời sống các đơn vị cực kỳ khó khăn – thiếu lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhu yếu phẩm. Việc qua lại dòng sông chủ yếu là bơi bộ. Nhiều chuyến công tác từ Châu Thành sang Giồng Trôm không thể đi bằng đường bộ vì quá nhiều ổ phục kích của địch, mà phải “đi thủy” – đó là đặc thù chỉ có ở vùng sông nước thủy triều lên xuống. 

Từ An Phước, muốn về các xã Phong Mẫm, Phong Mỹ, Châu Hòa, Châu Bình thuộc Đông-Bắc huyện Giồng Trôm, toàn bộ trang bị cá nhân (cả súng đạn), túm gọn trong vải mưa, tạo thành chiếc phao, đợi con nước ròng vào ban đêm, tấp vô một dề lục bình, ngụy trang thật kỹ xuôi theo dòng nước. Mười mấy cây số, chỉ hơn một tiếng đồng hồ đã tới nơi. 

Qua mặt bọn cú vọ phục kích, kể cả bọn lính canh đồn bốt với đèn pha chiếu sáng rực mặt sông. Khi trở về, cũng theo quy trình ấy, theo chiều con nước lớn mà xuất quân.

Trước tình hình căng thẳng như thế, đơn vị chúng tôi đề nghị lãnh đạo địa phương tổ chức cuộc họp liên cơ bàn biện pháp phối hợp chống càn giữ đất; bao vây bức rút đồn bốt; phá khu gom dân, vận động quần chúng đấu tranh chính trị đòi trở về vườn cũ làm ăn sinh sống. Những chiếc tàu chiến tuần tiễu trên sông Ba Lai giao cho lực lượng du kích phục kích bắn tỉa. 

Cảnh giăng đáy bắt cá trên sông. (Ảnh do tác giả bài viết chụp năm 1972)
Cảnh giăng đáy bắt cá trên sông. (Ảnh do tác giả bài viết chụp năm 1972)

Chỉ sau 6 tháng đã bẻ gãy nhiều cuộc càn quy mô cấp tiểu đoàn vào An Phước. Bót Cầu Đình án ngữ sát bờ sông không chịu nổi áp lực vây ép đã phải rút chạy. Tình hình chiến sự bớt căng thẳng hơn. Tuy nhiên, đời sống vẫn quá khó khăn. 

Trước tình hình đó, cấp ủy Đảng và  lãnh đạo Cụm họp bàn thống nhất chủ trương phát động tinh thần cán bộ, chiến sĩ tự túc lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống đơn vị. Một tổ tăng gia sản xuất được thành lập, gồm 7 người nòng cốt, có kinh nghiệm trồng tỉa, chăn nuôi. Mượn ruộng bỏ hoang của dân ở ven đồng để cấy lúa, trồng rau. 

Mượn những bờ mương dừa ở vườn cũ của bà con đã bị bom tàn phá để trồng ngô, khoai, sắn. Những hố bom đìa thành ao thả rau nhút và nuôi vịt. Dựng một sào đáy ở sông Ba Lai. Đây là nội dung hấp dẫn nhất và tốn nhiều thời gian bàn luận nhất. 

Nó hấp dẫn bởi, sẩm tối, khi nước chớm ròng, thả đáy xuống, chừng hai, ba giờ sau khi nước ròng sâu, ra kéo đáy lên là có cả một cần xé (sọt to) tép bạc, tôm, cá. Cái khó là tiền đâu để mua đáy, mua xuồng? Có phương tiện rồi thì đào đâu ra người sử dụng? 

Bàn tới, bàn lui, cuối cùng đi tới thống nhất: Tạm vay tiền của một số gia đình cơ sở điều kiện kinh tế khá giả và sẽ trả lại sau một thời gian có thu hoạch. Không phải mua thực phẩm, rau xanh và một phần lương thực thì tiền sinh hoạt theo chế độ của toàn đơn vị sẽ đủ sức trả nợ. 

Còn lại vấn đề khó khăn là “thợ đáy”, Cụm phó Năm Phương hứa sẽ về quê ở Châu Bình, Giồng Tôm thuyết phục cha mình là ông già Năm, một “chuyên gia” nghề đóng đáy lên giúp đỡ một thời gian. 

Công tác chuẩn bị cuối cùng đó là cặp sào đáy. Phải có 2 cây cau già, mỗi cây dài ít nhất 10m, cắm sâu xuống sông làm trụ để giăng đáy. Đường kính miệng đáy rộng chừng 5m, chiều dài của đáy cỡ gần 20m, phần cuối cùng là bầu đáy, nơi tôm tép đổ dồn về đó.

Ngày “khai trương” sào đáy, đơn vị vui như mùa hội. Ông già Năm từ lúc đóng đáy cho tới khi dỡ đáy, thoăn thoắt vừa làm vừa hướng dẫn cho anh em. Mẻ đáy đầu tiên trúng lớn. Tôm tép dồn cứng bàu đáy, đổ đầy cả cần xé. 

Sông nước miền Tây vào mùa Tết.
Sông nước miền Tây vào mùa Tết.

Cụm trưởng Bảy Vĩnh quyết định luộc toàn bộ để liên hoan mừng thắng lợi. Rượu đế Lương Hòa nhắm với tép bạc luộc chấm muối ớt, ai cũng ăn tới no mà không hết. Đơn giản vậy thôi, song lại là kỷ niệm nhớ đời đối với chúng tôi.

Những mẻ đáy sau đó, khi “xuất quân”, chúng tôi đều bố trí một tổ trinh sát cảnh giới, đề phòng trực thăng tuần tiễu theo sông. Người và xuồng đều ngụy trang cẩn thận. Khi phát hiện có máy bay, nhanh chóng tấp vào bờ, luồn dưới những cây bần cành lá xòa tới mặt nước.

Một lần, do tính sai con nước ròng, thời gian ra sào đáy chậm, nước cạn tới gần nửa sông, anh em đã giốc tép từ bầu đáy vào cần xé thì bộ phận cảnh giới hô lớn: “Trực thăng từ phía kênh Chẹt sậy bay lên”. 

Tình huống quá bất ngờ, anh em đành phải đánh đắm xuồng, mỗi anh nhanh chóng tấp vào một dề lục bình thả xuôi theo nước. Thật hú vía! Sau mấy loạt đại liên bắn vu vơ hai bên bờ sông, chiếc trực thăng cất cánh bay xa. Anh em trở về sào đáy, đánh nổi xuồng rồi cùng nhau đẩy vượt giốc, giấu xuồng vào lùm cây.

Năm đó chúng tôi ăn tết thật to. Có thể nói, nhu yếu phẩm không thiếu thứ gì. Bánh tét do đơn vị tự gói bằng nếp tăng gia. Lợn do bà con nuôi giúp bằng cám, ngô, rau của đơn vị. Có vịt, gà tự túc. Tôm, cá, tép thì ê hề, phải chia bớt cho đơn vị bạn. Kẹo, mứt các loại do bà con ngoài ấp chiến lược gửi tặng. 

Trưa mùng Một tết bà con ngoài ven đồng vào ăn tết với đơn vị rất đông. Các bà, các cô diện như đi hội. Sáng 30 tết cả đơn vị tập trung “sản xuất” bàn ghế để đón tiếp bà con. Bàn ghép bằng tre, ghế bằng thân cau, thân cây dừa khô. 

Một cái tết thắm tình quân dân, trở thành một trong những yếu tố tạo nên những mối tình của các chàng trai đơn vị chúng tôi với một số cô thôn nữ quê dừa An Phước, để rồi có tới nửa tá cán bộ, chiến sĩ H67 trở thành chàng rể của miền quê yêu dấu ấy.

Kết thúc chiến tranh, tôi trở về miền Bắc, thi thoảng có chuyến công tác tới các miền quê có cửa biển, cửa sông, gặp những sào đáy, lòng lại bâng khuâng nhớ về bến sông xưa nơi xứ dừa Đồng Khởi, nơi khắc ghi trong tôi bao kỷ niệm của một thời đầy niềm thương, nỗi nhớ. 

Khổng Minh Dụ

Các tin khác

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Những lá thư gói trọn tình yêu, nỗi nhớ và khát khao mong chờ ngày đoàn tụ gia đình, gặp lại con thơ và người chồng yêu thương của Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng vẫn được người con trai của bà lưu giữ, bảo quản trang trọng trong trái tim và ký ức…

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Ở nhiều vùng quê của Quảng Trị, những người đến lấy mẫu sinh phẩm ADN cho thân nhân liệt sĩ không chỉ mang theo các thiết bị chuyên dụng, hồ sơ nghiệp vụ hay biểu mẫu thu nhận thông tin. Họ còn mang theo một lời hứa. Đó là sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để thêm một người lính nữa được gọi đúng tên.

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Tháng Bảy trên miền đất thiêng Quảng Trị, nhiều cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. Có gia đình vừa đón được người thân trở về nhờ giám định ADN. Có những người vẫn băng rừng lần theo từng dấu tích chiến trường. Và cũng có những cuộc tìm kiếm đã khép lại từ một di vật tưởng chừng vô tri nằm dưới lòng đất hơn nửa thế kỷ.

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Khám phá công việc của cán bộ quản giáo và chiến sĩ thi hành án tại Gia Lai, những chiến công thầm lặng bảo vệ an ninh, cảm hóa người lầm lỗi.

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Tháng Bảy, khi hàng vạn người từ khắp mọi miền đất nước về Quảng Trị dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, trên mảnh đất từng là chiến trường ác liệt này vẫn có những cuộc tìm kiếm lặng lẽ diễn ra. Có gia đình sau hơn nửa thế kỷ mới xác định được nơi người thân yên nghỉ nhờ giám định ADN. Có những người vẫn mang theo tấm sơ đồ cũ băng rừng, vượt suối để tìm cha. Mỗi cuộc tìm kiếm là một hành trình đi qua thời gian, nối quá khứ với hiện tại bằng khát vọng đưa những người lính trở về với gia đình và quê hương.

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Những ngày tháng Bảy, hàng vạn du khách từ khắp nơi trên mọi miền đất nước đã tìm về "địa chỉ đỏ" Khu di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) để tri ân, tưởng nhớ 10 liệt nữ TNXP và các anh hùng, liệt sĩ nhân dịp kỷ niệm 58 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2026) và 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2026).

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Dưới cái nắng oi ả của những ngày trung tuần tháng 7, tại Công viên Lê Thị Riêng (TP Hồ Chí Minh), không khí làm việc của Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh diễn ra khẩn trương nhưng cẩn trọng và khoa học. Bên những hố đất sâu, có bóng dáng một người đàn ông năm nay đã 82 tuổi với cặp kính dày, đôi tay tỉ mỉ gạt từng lớp bùn đất, phân loại từng mẩu xương, từng di vật nhỏ…

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - thuế, nơi yêu cầu cao về tính minh bạch, chính xác và kịp thời. Ngành thuế Việt Nam đang từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, số hóa quy trình quản lý nhằm xây dựng hệ thống thuế hiện đại, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.

Chuyện tình bất tử của cô giao liên bên sông Vàm Cỏ Đông

Chuyện tình bất tử của cô giao liên bên sông Vàm Cỏ Đông

Chiến tranh "mượn" ông đi nhưng chưa trả lại cho bà. Một lời hứa, đợi chờ kéo dài tận 6 thập kỷ còn mãi trong tim. Thương một người hẹn mãi mãi không về, quý một người giữ mãi đợi chờ. Đó là chuyện tình bất tử của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và cô giao liên Nguyễn Thị Lệ.

Bài 2: Không ngại gian khó, hiện thực hóa khát vọng sớm đưa các liệt sĩ về với quê hương

Bài 2: Không ngại gian khó, hiện thực hóa khát vọng sớm đưa các liệt sĩ về với quê hương

Tháng Bảy - tháng Tri ân, tại nhiều nghĩa trang liệt sĩ và những địa bàn từng là chiến trường ác liệt năm xưa ở miền Trung, cuộc hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng khẩn trương triển khai. Từ những phần mộ chưa biết tên đến các khu vực nghi còn hài cốt liệt sĩ trong rừng sâu, núi cao hay dưới lòng đất của các chiến trường cũ, tất cả đều đang được rà soát bằng nhiều giải pháp đồng bộ, với mục tiêu trả lại tên tuổi cho những người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bài 1: Ký ức dẫn đường nơi… “đất lửa”

Bài 1: Ký ức dẫn đường nơi… “đất lửa”

Triệu con tim của cả nước đang hướng về “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ". Những ngày này, việc thực hiện chiến dịch đang diễn ra rất khẩn trương tại tất cả các địa phương. Và lực lượng Công an đang bám sát nhiệm vụ mà Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ giao cho.

Gặp nữ chiến sĩ kiên trung của Ban An ninh Quảng Đà

Gặp nữ chiến sĩ kiên trung của Ban An ninh Quảng Đà

Từ cô gái 15 tuổi làm giao liên giữa vùng địch kiểm soát đến nữ Đội trưởng Đội trinh sát An ninh vũ trang huyện Duy Xuyên (Quảng Nam cũ) lập nhiều chiến công vang dội trên chiến trường Quảng Đà, Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Xoa đã dành trọn tuổi thanh xuân cho cách mạng. Hơn 50 năm sau ngày đất nước thống nhất, người nữ chiến sĩ năm xưa vẫn lặng lẽ tiếp tục hành trình cống hiến... 

Thầm lặng "gác bầu trời" để pháo hoa tỏa sáng đôi bờ sông Hàn

Thầm lặng "gác bầu trời" để pháo hoa tỏa sáng đôi bờ sông Hàn

Khi hàng vạn người dân và du khách ngước nhìn bầu trời sông Hàn (Đà Nẵng) chờ đón những màn pháo hoa rực rỡ của Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 (DIFF 2026), ở một "mặt trận" khác, những cán bộ, chiến sĩ Công an TP Đà Nẵng vẫn lặng lẽ canh giữ vùng trời lễ hội. 

Khi AI bước vào tòa soạn…

Khi AI bước vào tòa soạn…

Chiều muộn, tại một toà soạn ở Hà Nội, những phóng viên vẫn lạch cạch gõ chữ. Những bài báo dần lên khuôn hình. Thế nhưng, thay vì căng mắt dò lỗi bài viết, giờ đây phóng viên có thể nhấn một câu lệnh, chỉ trong tích tắc các lỗi chính tả sẽ được AI báo về. Điều đáng nói, “dò lỗi” chỉ là một công việc rất nhỏ trong muôn vàn công đoạn khác mà giờ đây AI có thể hỗ trợ các toà soạn báo.

Báo chí tìm hướng đi mới trong kỷ nguyên AI

Báo chí tìm hướng đi mới trong kỷ nguyên AI

Trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển tới mức có thể viết các bài báo, tóm tắt sự kiện và đưa ra những phản hồi mang tính thời sự chỉ trong vài giây, “AI đang thay đổi báo chí đến mức nào” là một câu hỏi không thể né tránh.

“Những năm tháng khốc liệt” của nhà báo cựu tù Côn Đảo

“Những năm tháng khốc liệt” của nhà báo cựu tù Côn Đảo

Ký ức chiến tranh, niềm trăn trở và ám ảnh về năm tháng tù đày đã thôi thúc người cựu tù Côn Đảo cầm bút viết nên cuốn sách “Những năm tháng khốc liệt”. Với chất liệu sống thô ráp, chân thực, cùng khoảng thời gian chịu đựng mọi đòn roi tra tấn và khổ đau tận cùng của kiếp người đã tạo nguồn cảm xúc giúp tác giả Hoàng Phương kể lại câu chuyện của đời mình cùng những người bạn tù “nơi địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Trên dải cát trắng khô cằn ven biển, thôn Phú Hội, xã Nam Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị đang chứng kiến sự chuyển đổi rõ nét khi nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản mới như ốc hương, cá kình, cá lăng đuôi đỏ… từng bước mở rộng. Những đối tượng nuôi đa dạng, ứng dụng kỹ thuật mới không chỉ mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn vùng đất cát, mà còn tạo thêm nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm cho nhiều hộ dân.

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.