Theo website lenta.ru, câu trả lời rất đơn giản: Không phải một bộ gien hay một chuẩn tinh (quasar) nào đó, cũng không phải là nguyên lý ngoại trừ Pauli, mà chính là các món ăn thông thường. Việc nghiên cứu các khía cạnh trong dinh dưỡng đã giúp các nhà khoa học tạo được những tiến bộ trong những lĩnh vực tưởng như vô cùng cách xa nhau này.
Bữa sáng ở kỷ Phấn trắng
Kỷ Phấn trắng hay kỷ Creta, như nhiều người trong chúng ta đã biết, là kỷ địa chất dài nhất trong đại Trung sinh, chiếm khoảng gần một nửa thời gian của đại này, cách chúng ta khoảng 120 triệu năm về trước. Những chú micropaptor đã tồn tại trong kỷ Phấn trắng. Hóa thạch của chúng được phát hiện năm 2003 tại Liêu Ninh, Trung Quốc và đã khiến cho giới khoa học phải kinh ngạc. Vì đấy không chỉ là loài có lông và cũng không chỉ có hai cánh mà những bốn cánh. Chúng có lông tạo thành bề mặt khí động học ở hai tay, đuôi và cả ở hai chân. Tiêu bản những con micropaptor lớn có chiều dài 43-82 cm và chúng là loài khủng long nhỏ nhất mà con người biết tới từ trước tới nay. Micropaptor cũng là một trong những khủng long không phải thuộc loài bay đầu tiên mà người ta biết đến nhưng lại có lông vũ.
Từ thời điểm đó, các nhà cổ sinh vật học đã không ngừng tranh luận với nhau về cách mà loài sinh vật kỳ dị này từng sống. Một số người khẳng định rằng, micropaptor đã sống trên mặt đất và hai đôi cánh đã cần để chúng nhảy những bước dài. Một số người khác lại cho rằng micropaptor sống ở trên cây và chúng cần tới cánh để làm cái việc vẫn phổ biến là bay từ cây này sang cây khác. Cả hai giả thuyết này đều có những điểm mạnh và những điểm yếu. Thí dụ, loài có lông mà phải cần tới 4 cánh để nhảy nhót trên mặt đất thì... hơi bị nhiều! Hơn nữa, có bốn cánh thì đi lại trên mặt đất sẽ phiền toái hơn. Nhìn từ góc độ khác, chúng ta chỉ quen nhìn những loài bay có hai cánh và không thể tưởng tượng nổi cảnh ở kỷ Phấn trắng, những “quái kiệt trên không” kiểu như micropaptor bay bằng cả bốn cánh như thế nào.
Thế nhưng, công trình nghiên cứu mới xuất hiện trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences lại tiếp cận vấn đề này từ một góc độ bất ngờ. Các nhà khoa học lần đầu tiên đã phát hiện thấy những hóa thạch còn được bảo quản rất tốt mà trong đó có bộ xương của một con chim (thực ra thì đây là cả một công trình phức tạp riêng - chứng minh rằng, bộ xương của chim nằm ở bên trong chứ không phải nằm dưới loài khủng long này ở thời điểm nó chết). Các nhà khoa học trước đây đã từng cho rằng, khủng long - ở đây nói tới không chỉ về những chú micropaptor mà về các loài khủng long nói chung, đã ăn thịt các con chim, nhưng cho tới gần đây vẫn chưa phát hiện được một vật chứng nào cả.
Giờ thì các nhà cổ sinh vật học đã không chỉ chứng minh được rằng, thịt chim nằm trong thực đơn của các loài khủng long cổ đại mà còn xác định được rằng, các chú micropaptor đã ăn cả thịt chim. Việc này, theo lời các nhà khoa học, là vật chứng quan trọng cho thấy, khủng long bốn cánh đã cư trú ở trên cây (nếu chỉ nhảy nhót trên mặt đất hẳn micropaptor rất khó bắt được chim).
Bữa trưa ở thế Canh Tân muộn
Một câu chuyện điển hình khác về quần động vật lớn đã bị tuyệt chủng.
Thuật ngữ “quần động vật lớn” được dùng để chỉ thế giới động vật sống ở thế Canh Tân (hay còn gọi là thế Pleistosen) muộn. Đó là những phiên bản phóng đại của nhiều loài động vật đang sống trong thời hiện đại. Ở giai đoạn đó (cũng trùng với một kỷ băng hà thường lệ) trên hành tinh đã có các chú tê giác lông mịn, hổ răng kiếm, sư tử châu Âu và tất nhiên, cả những chú voi ma mút.
Tới cuối thế Canh Tân, tất cả những loài thú khổng lồ này bỗng nhiên tuyệt chủng. Từ “bỗng nhiên” được sử dụng ở đây không phải tình cờ - thượng tuần tháng 11-2011 này trên tạp chí Nature mới xuất hiện bài báo mà trong đó, các tác giả của nó đã khẳng định rằng, nguyên tắc tuyệt chủng của quần thể động vật lớn cũng tương tự như trò xổ số.
Bất luận chuyện gì đã xảy ra, nhưng trong thế giới khoa học hiện đại vẫn chưa đạt được sự nhất trí liên quan tới những nguyên nhân của hiện tượng này. Nhìn chung, mọi người tất nhiên đều đồng ý rằng, không phải không vì những biến đổi khí hậu và sự can thiệp của con người, nhưng tác động cụ thể của các yếu tố này như thế nào thì đó vẫn còn là lý do để tranh luận.
Liên quan tới việc này, rất nên để ý tới bài báo vừa xuất hiện trong số tháng chạp năm 2011 của tạp chí Quaternary International. Các tác giả của bài báo này đã tiến hành nghiên cứu thành phần đồng vị của collagen, một dạng protein có khả năng tồn tại trong mô xương qua hàng chục nghìn năm. Những thức ăn của động vật khi chúng còn sống có tác động trực tiếp tới thành phần đồng vị. Thí dụ, tỉ lệ đồng vị cácbon-13 và đồng vị cácbon-12 cho phép đánh giá về nguồn gốc của protein trong thực đơn của động vật (hải sản hay trên cạn), còn tỉ lệ đồng vị nitơ-15 và đồng vị nitơ-14 sẽ dẫn tới xác định tỉ lệ tương tự trong loài động vật hoặc thực vật đã được dùng làm thức ăn cho động vật ấy.
Các nhà khoa học đã phân tích mẫu collagen thuộc về hơn 370 loài vật mà hóa thạch của chúng đã được thu thập về tại 25 vùng trên trái đất. Kết quả là các nhà cổ sinh vật học đã xác định được rằng, các chú sư tử châu Âu cực kỳ kén ăn. Nguồn thực phẩm chủ yếu của chúng là nai (loài vật mà theo các nhà nghiên cứu, ở thời thượng cổ xa xưa đã ăn rêu nhiều hơn đồng loại của chúng thời hiện đại). Các nhà nghiên cứu cũng xác định được rằng, sư tử châu Âu cũng rất hay ăn thịt các chú gấu hang động con - sở dĩ biết được việc đó vì các nhà khoa học xác định được sự khác nhau trong thực đơn của các con gấu cha mẹ và các chú gấu con (gấu con chủ yếu được nuôi bằng sữa gấu mẹ).
Thực đơn của sư tử châu Âu so với đồng loại của chúng thời hiện đại cũng như của các loài mãnh thú ăn thịt khác ở thế Canh Tân (trong công trình nghiên cứu trên còn xem xét cả các chú linh cẩu đốm) rất đơn điệu. Từ đó các nhà khoa học đi tới kết luận là, sư tử châu Âu như một loài động vật đã rất nhạy cảm đối với những thay đổi trong việc phổ biến nai. Cụ thể, khi loài nai bắt đầu suy giảm số lượng, thì loài sư tử châu Âu cũng dần dà mất giống. Và tiếp theo là những thay đổi khí hậu đã tạo nên kết cục của sự đã rồi đó. Và việc loài nai bị suy giảm hoàn toàn có thể do con người đã săn bắn chúng.
Bữa tối ở đỉnh điểm thế Nhân sinh
Để kết thúc bài viết này, có thể nói tới những nghiên cứu đã được cấp kinh phí từ lục quân và không quân Mỹ. Trong khuôn khổ của dự án này, các nhà khoa học đã phân tích các sở thích ẩm thực không phải của các chú microraptor hay các chú sư tử châu Âu mà của con người (các vấn đề liên quan tới khẩu phần của các quân nhân luôn được giới lãnh đạo quân sự Mỹ đặc biệt chú ý). Bài báo của các nhà nghiên cứu cho tới thượng tuần tháng 12-2011 vẫn chưa được công bố nhưng những nét chính trong nội dung của nó có thể được biết trên website arXiv.org.
Trong khuôn khổ dự án, các nhà khoa học đã xây dựng được một tấm bản đồ ẩm thực với những dữ liệu lấy từ website Allrecipes.com. Các bản đồ này thực chất là các đồ thị - tức là một tập hợp các đỉnh mà một số trong đó là được nói với nhau bằng các cạnh. Đã có hai đồ thị như vậy được xây dựng, liên quan tới nghệ thuật ẩm thực của con người trong thời hiện đại, tức là khi thế Nhân sinh đang được coi là cực thịnh.
Đồ thị thứ nhất là một bản đồ toàn cầu sự bổ sung lẫn nhau của các thành tố. Trong giai đoạn nghiên cứu đầu tiên, các nhà khoa học đã tập hợp được 46.377 thực đơn. Với các thực đơn này, họ đã lập ra danh sách toàn cầu các hợp phần có thể có được rồi từ đấy, lựa chọn ra khoảng 1.000 hợp phần phổ biến nhất (mỗi hợp phần có mặt trong ít nhất là 23 món ăn). Những hợp phần trên chính là đỉnh của các đồ thị.
Sau đó, các nhà khoa học mới tính tới xác suất của việc có hai món ăn có mặt trong ít nhất cùng một thực đơn. Cạnh của đồ thị được nối các đỉnh nếu xác suất của việc cùng có mặt lớn hơn mức độ đã được xác định.
Việc tìm kiếm những sự phân nhóm dữ liệu trên bản đồ đã có cho phép phát hiện hai tập hợp lớn nhất các hợp phần mà các nhà khoa học đã gọi một cách tương đối là “ngọt” và “chua” (tập hợp được gọi là “cocktail” cũng đã được phát hiện riêng). Sau đó, các nhà khoa học đã cố gắng tìm lời đáp cho câu hỏi: Liệu chất lượng của món ăn có gia tăng cùng với việc bỏ thêm vào đó một số hợp phần của thực phẩm?
Để làm việc đó, các nhà khoa học đã dựa vào chỉ số áp dụng các thực đơn - những đầu bếp của Allrecipes.com không chỉ được phân loại bởi các cách nấu những món ăn ưa thích của họ mà còn tranh luận xem làm thế nào thì tốt hơn. Kết quả là, việc sử dụng các gia vị và các hợp phần (tất nhiên là thế!) đã làm cho các món ăn trở nên ngon hơn, trong khi sự không hòa hợp với nhau các hợp phần ảnh hưởng rất ít tới chất lượng cuối cùng của món ăn.
Bản đồ thứ hai mà các nhà khoa học đã lập ra là bản đồ thay đổi tương hỗ giữa các loại thực phẩm. Trên bản đồ này, các cạnh nối các đỉnh là các loại thực phẩm có thể thay thế lẫn nhau trong một số lượng đủ lớn các thực đơn.
Kết quả chính yếu của đề án, theo lời các nhà khoa học, là ở chỗ, họ đã thể hiện được rằng, chỉ số sử dụng của món ăn có thể được đoán trước trên cơ sở hai đồ thị trên và giá trị năng lượng của các thực phẩm được đưa vào nó. Mức độ chính xác của dự đoán này là gần 0,8.
Ngoài ra, hệ thống mới trong lý thuyết trên cho phép đưa câu hỏi về việc liệu món ăn nào đó có được thực khách thích hay không trở thành một phép toán đơn giản, cho phép lý giải, vì sao con người lại phải nấu ăn. Theo một trong những giả thuyết đang được ưa chuộng, con người bắt đầu xử lý thực phẩm để dễ tiêu hóa nó hơn. Thí dụ, theo một số tư liệu, 48% thời gian tỉnh được loài khỉ dùng vào việc tiêu hóa thực ăn, trong khi đó con người hiện đại chỉ dùng vào việc này có 4,7% thời gian tỉnh của mình. Ngoài ra, sự xuất hiện của việc nấu ăn, theo ý kiến của các nhà nhân chủng học, đã dẫn tới những thay đổi cơ cấu hàm răng con người từ khoảng 1,9 triệu năm trước. Mức độ sử dụng cao nhất chính là ở những loài thức ăn dễ được tiêu hóa nhất