Những ngày cuối cùng của Trại Đa-vít

Trại Đa-vít (Tân Sơn Nhất - Sài Gòn) chính thức là trụ sở của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên Trung ương từ ngày Hiệp định Paris có hiệu lực (28/1/1973).

Trước đây, trại Đa-vít là một trại lính cũ của Mỹ, nằm lọt giữa bốn bề lô cốt, ụ súng, dây thép gai, kề sát đường băng và khu sửa chữa máy bay. Bố trí trụ sở của 2 đoàn ở tại vị trí này, mục đích của đối phương muốn cô lập, cản trở và giam lỏng các cán bộ, chiến sĩ của ta. Nhưng với nỗ lực của đoàn, nơi này đã trở thành “một hàn thử biểu báo thời tiết chính trị, quân sự, đặt ngay trong lòng địch”, một lãnh thổ bất khả xâm phạm của quân ta giữa lòng thành phố Sài Gòn.

Trại Đa-vít, trụ sở của 2 đoàn đại biểu quân sự.
Trại Đa-vít, trụ sở của 2 đoàn đại biểu quân sự.

Mặc dù Mỹ, ngụy thường xuyên uy hiếp và gây muôn vàn khó khăn nhưng các cán bộ chiến sĩ của hai đoàn đại biểu quân sự đã trụ vững tại vị trí này trong suốt 823 ngày đêm, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự.

Trung tướng Trần Văn Trà, Phó tư lệnh Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã khẳng định: "Bên cạnh 5 mũi tiến công quân sự vào Sài Gòn, Đoàn xứng đáng được coi là mũi tiến công thứ 6; đó là mũi tiến công ngoại giao quân sự, một nét hết sức độc đáo và đặc sắc của chiến tranh nhân dân".

Những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, nơi này đã trở thành một trận địa cách mạng kiên cường. Sau ngày 30/4/1975, trại Đa-vít là địa điểm an toàn nhất của cách mạng tại Sài Gòn và là nơi đặt chân đến đầu tiên của các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, trong đó có 3 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị là Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng, cùng các tướng lĩnh chỉ huy 5 cánh quân họp bàn phương án bảo vệ vùng giải phóng.

Chuyến bay liên lạc Sài Gòn - Lộc Ninh cuối cùng

Theo sự  thỏa thuận của các bên trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên và 2 bên Trung ương, hằng tuần có 2 chuyến máy bay trực thăng HU1A liên lạc giữa Sài Gòn và Lộc Ninh, chở người và hàng hóa phục vụ cho Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong trại Đa-vít. Các chuyến bay này được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, phía Việt Nam Cộng hòa không được phép khám xét người và hàng hóa.

Cuối tháng 3/1975, sau khi quân ta liên tiếp giải phóng từ Đà Nẵng đến Nha Trang, Đà Lạt, Ban lãnh đạo đoàn phán đoán về thời cơ giải phóng Sài Gòn đã tới gần nên đã thống nhất đề nghị với Bộ Tổng tư lệnh xin được trang bị cuốc xẻng để đào hầm, vũ khí để chiến đấu khi cần thiết. Lúc này, số vũ khí mà đoàn có chỉ là một số khẩu AK trang bị cho các đồng chí làm công tác bảo vệ theo quy định của Hiệp định Paris. Đề phòng trường hợp địch dùng xe tăng liều lĩnh xông vào trại, đoàn cần được trang bị thêm lựu đạn, vũ khí chống tăng.

Cấp trên đồng ý cấp vũ khí cho trại Đa-vít nhưng vận chuyển vũ khí vào trại như thế nào để địch không nghi ngờ. Khó hơn nữa, tại thời điểm này, khi quân ta đánh và giải phóng tỉnh Phước Long, phía Sài Gòn đã đơn phương cắt các chuyến bay liên lạc hằng tuần giữa Sài Gòn - Lộc Ninh nhằm gây sức ép đối với phái đoàn của ta.

Một tình huống may mắn bất ngờ đã đến, hai vị đại sứ Indonesia và Iran đã đến nhờ trưởng đoàn can thiệp để trao trả cho họ 2 đại úy của tổ Ủy ban Quốc tế đang bị phía ta giữ trong trận đánh giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975. Đây là một dịp may hiếm có để ta có lý do bí mật vận chuyển vũ khí, đồng thời đưa một số đồng chí đã xong nhiệm vụ ra vùng giải phóng.

Cuộc họp báo ngày 12/1/1975 tại trại Đa-vít về sự kiện giải phóng thị xã Phước Long.

Cuộc họp báo ngày 12/1/1975 tại trại Đa-vít về sự kiện giải phóng thị xã Phước Long.

Theo kế hoạch, Ủy ban Quốc tế sẽ thực hiện hai chuyến bay Sài Gòn - Lộc Ninh, chuyến thứ nhất vào ngày 15//1975 làm công tác chuẩn bị, chuyến thứ hai vào ngày 17/4/1975 để thực hiện việc trao trả và đón 2 sĩ quan người Indonesia và Iran về Sài Gòn. Trong chuyến bay thứ nhất ta đã mang trót lọt "2 valy ngoại giao" với đầy vũ khí chống tăng mà không bị phía Sài Gòn khám xét. Khi các chiến sĩ của ta khênh 2 valy từ máy bay lên xe về trại, các sĩ quan ngụy còn kháo nhau: "Hàng ngoại giao" gì đâu, chắc lại toàn mì Lộc Ninh đó thôi, mấy ông này ăn mì (sắn) quen rồi… Và chuyến bay thứ hai, việc trao trả 2 sĩ quan và đưa người của ta ra vùng giải phóng cũng diễn ra an toàn và suôn sẻ.

Chuẩn bị công sự phòng thủ - sẵn sàng chiến đấu

Đầu tháng 4/1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Miền đã truyền đạt ý định khi cuộc tấn công vào Sài Gòn nổ ra, sẽ có một lực lượng đặc công vào trại đưa các thành viên ra nơi an toàn. Ban lãnh đạo của đoàn đã họp phân tích tình hình và kết luận: "Trong lúc này, nhất là trước tình hình kẻ thù đang tan rã, ta vẫn có đủ yếu tố chiến đấu bám trụ tại chỗ và đề nghị Bộ Tư lệnh và Quân ủy Miền cho phép ở lại chiến đấu". Đề nghị này được cấp trên chấp thuận.

Quan sát thấy rất nhiều máy bay của địch tập trung về Tân Sơn Nhất, ngay sát trại Đa-vít, Ban lãnh đạo đoàn đã gửi một bức điện cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh đề nghị khi cuộc tiến công nổ ra, quân ta cứ bắn pháo mạnh vào sân bay, không vì sợ ảnh hưởng đến sự an toàn của đoàn mà bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Các cán bộ, chiến sĩ trong đoàn hạ quyết tâm chuẩn bị mọi mặt như dự trữ lương thực, thuốc men, thiết kế hệ thống công sự phòng thủ, lập kế hoạch tổ chức phân công lực lượng trên từng vị trí để bước vào  giai đoạn chiến đấu cuối cùng.

Từ ngày 18/4/1975, toàn đoàn bước vào cuộc chuẩn bị chiến đấu khẩn trương, âm thầm lặng lẽ mà căng thẳng. Phương án khả thi và duy nhất để lập công sự phòng thủ đó là đào hầm ngay dưới các phòng sinh hoạt trong trại. Đêm đêm, mọi người  chui vào lòng đất đào chiến hào công sự. Thiếu xẻng, cuốc, các cán bộ chiến sĩ dùng tất cả các vật dụng có thể đào được đất như cọc màn, tuốc-nơ-vít, lưỡi lê, dao găm, các thanh sắt rơi vãi quanh trại… Đất đào lên được đổ vào gầm giường, tôn cao nền nhà. Mọi hoạt động đều phải diễn ra trong im lặng để giữ bí mật.

Thức đêm đào hầm nhưng ban ngày các cán bộ chiến sĩ vẫn phải giữ nếp sinh hoạt như bình thường để tránh con mắt nghi ngờ của quân địch ở ngay bên kia hàng rào sắt. Giờ thể thao, các cầu thủ vẫn phải thi đấu nhiệt tình, khán giả vẫn phải hò reo hăng hái… dù tất cả đang mệt nhoài.

Mười ngày đêm trôi qua, 7 khu vực chiến đấu nối nhau bằng hệ thống hào giao thông có nắp dày gần như địa đạo, 2 hầm ngầm chỉ huy, hầm quân y, hầm làm kho dự trữ nước, lương thực... được hoàn thành. Tất cả đã sẵn sàng "chiến đấu và chiến thắng" trong những tình huống khó khăn và gay cấn nhất.

Trại Đa-vít được an toàn trong những trận đánh Tân Sơn Nhất

Chiều ngày 28/4/1975, một tốp máy bay A-37 (loại máy bay oanh tạc của quân đội Sài Gòn) bất ngờ ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, mảnh bom bay rào rào sang khu vực trại Đa-vít. Các cán bộ chiến sĩ lập tức xuống hầm trú ẩn, sau vài phút bình tĩnh lại, tất cả mọi người đều suy xét đây chỉ có thể là phi công Sài Gòn phản chiến hoặc chính là trận tấn công của quân ta. Mọi người hiểu rằng, đại sự đã đến. Đêm hôm đó, tất cả các bộ phận được lệnh của chỉ huy đoàn xuống ngủ dưới hầm theo đội hình chiến đấu đã được chuẩn bị từ trước, triển khai canh gác theo kế hoạch tác chiến, vận hành mạng điện thoại từ Sở chỉ huy đến các đầu mối, trạm quân y sẵn sàng đón thương binh, điện đài cơ yếu sẵn sàng đón mệnh lệnh của cấp trên.

Đêm 28/4 trôi qua trong yên tĩnh, cho đến 3 giờ sáng ngày 29/4, tiếng đạn pháo và hỏa tiễn nổ vang, bay tới tấp vào khu vực Tân Sơn Nhất. Pháo binh của ta đã tấn công, cả khu vực sân bay chìm trong khói lửa. Những tiếng nổ sát gần trại, những mảnh đạn pháo văng rào rào. Mặc dù có hệ thống địa đạo nhưng đoàn cũng không tránh khỏi những thương vong, hai đồng chí làm nhiệm vụ canh gác đã hy sinh, ba đồng chí bị thương nặng. Tổn thất này đã được đoàn dự báo từ trước nhưng khó tránh được vì đoàn đang ở sâu trong lòng địch.

Trong buổi sáng ngày 29/4, một ngày rất căng thẳng và sôi động, Đại sứ Mỹ Martin đã nhiều lần đề nghị gặp Trưởng đoàn Đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời. Nhận thấy tình hình lúc này không còn gì để bàn bạc, đoàn từ chối gặp. Buổi trưa, một đoàn khách tự giới thiệu là "phái viên của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền" đến để bàn việc giao chính quyền.

Không thể tiếp, lãnh đạo đoàn từ chối với lý do không được ủy quyền bàn bạc vấn đề gì, mọi điều cần thiết đã được nêu rõ trong Tuyên bố ngày 26/4/1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời. 17 giờ 30 phút, lại một đoàn khách gồm luật sư Trần Ngọc Liễn, Châu Tâm Luân (người vừa được Dương Văn Minh cử làm Bộ trưởng) cùng linh mục Chân Tín đến thiết tha xin gặp để bàn việc quân ta đánh Sài Gòn sao cho bớt đổ máu và tổn hại vật chất. Xét đây là những người thuộc lực lượng thứ ba, lãnh đạo đoàn đồng ý tiếp với tư cách cá nhân họ chứ không đại diện một tổ chức nào. Phó trưởng đoàn Võ Đông Giang đã tiếp 3 người khách tại hầm Sở chỉ huy dự bị.

Đoàn khách vừa vào đến hầm thì một loạt pháo cấp tập bắn vào Tân Sơn Nhất. Dự đoán tiếng súng sẽ không yên trong suốt đêm nay, lãnh đạo đoàn đã khuyên 3 vị khách ở lại qua đêm tới lúc xong trận để đảm bảo an toàn. Vậy là lần đầu tiên, trong một Sở chỉ huy quân cách mạng ở ngay tại Sài Gòn, một sĩ quan Cộng sản đã thức trắng đêm tiếp 3 vị khách - người của phía bên kia - là một giáo sư, một linh mục, một luật sư. Bốn người cùng trò chuyện và theo dõi nhịp độ tấn công thần tốc của cuộc Tổng tiến công. Đồng chí Võ Đông Giang cũng giải thích cho họ cặn kẽ mọi vấn đề về cách mạng mà họ đang băn khoăn nghi ngờ.

Mặc dù đồng ý cho đoàn tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ chỉ huy chiến dịch vẫn cho chỉ định một cánh đặc công và xe tăng có nhiệm vụ đặc biệt phải tới trại Đa-vít sớm nhất để bảo vệ đoàn hoặc đưa bớt lực lượng ra vùng an toàn. Nhưng tốc độ các trận đánh vào Sài Gòn diễn ra nhanh chóng và thuận lợi, mọi kế hoạch thay đổi, đoàn đặc công và xe tăng có nhiệm vụ bảo vệ đoàn đã được lệnh nhận nhiệm vụ khác. Nhận tin đội đặc công và xe tăng sẽ không vào trại nhưng không ai trong đoàn tỏ ra lo lắng, tất cả đều hân hoan phấn khởi vì trận quyết chiến cuối cùng tưởng cam go, mà trái lại, thuận lợi và nhanh chóng vô cùng.

Lá cờ độc lập đầu tiên tại Sài Gòn tung bay trên tháp nước Trại Đa-vít

6 giờ ngày 30/4/1975, thông tin từ đài chỉ huy pháo binh cho biết họ sẽ bắn cấp tập từ 7 giờ đến 8 giờ để yểm trợ cho các đơn vị tổng công kích vào Sài Gòn. Tất cả các cán bộ chiến sĩ được lệnh ở nguyên dưới hầm. 9 giờ ngày 30/4/1975, nhận lệnh của Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn - Trưởng đoàn, đồng chí Mười Sương - Trưởng ban chính trị, gọi đồng chí Phạm Văn Lãi, nhân viên tổ chiếu phim, giao nhiệm vụ trèo lên tháp nước của trại Đa-vít để cắm lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tháp nước trong trại Đa-vít là một trong những điểm cao của Sài Gòn, lá cờ được cắm ở đây sẽ khiến quân ta biết hướng tiến công và quân địch đóng trong sân bay sẽ hoang mang, không còn khả năng chiến đấu. Đồng chí Phạm Văn Lãi vào kho tìm một lá cờ lớn nhất, ôm chặt trước ngực, băng qua sân tới cổng trại, leo lên tháp nước cắm cờ. 9 giờ 30 phút, lá cờ căng gió phần phật bay, đón chờ giờ toàn thắng.

10 giờ 40 phút, đồng chí trưởng đoàn Hung-ga-ri trong Ủy ban quốc tế đã lách qua đám đông ngoài phố vào trong trại chúc mừng chiến thắng. Bỏ qua tất cả các thông lệ ngoại giao, ông bế bổng đồng chí Đoàn phó Võ Đông Giang, đi một vòng từ đầu nhà tới cuối nhà.

11 giờ 30 phút, xe tăng của ta và bộ binh đã chiếm lĩnh Dinh Độc Lập. Qua Đài Phát thanh và Truyền hình, cán bộ chiến sĩ trong trại Đa-vít biết rằng Sài Gòn đã được giải phóng. Tất cả ôm lấy nhau mừng vui khôn xiết!

Với thắng lợi ngày 30/4/1975, nhiệm vụ của 2 đoàn tại trại Đa-vít đã chấm dứt, kết thúc 832 ngày đêm đấu tranh kiên cường trong lòng địch. Trung tướng Trần Văn Trà đến thăm các cán bộ chiến sĩ của đoàn vào ngày 3/5/1975 đã tuyên bố: Quân ủy Miền công nhận đơn vị trại Đa-vít "là một tiền tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh". Ngày 4/5/1975, các thành viên của 2 đoàn chia tay nhau, đoàn B chuyển sang tham gia lực lượng thuộc Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, trở về đơn vị cũ hoặc nhận nhiệm vụ mới, đoàn A trở lại thủ đô Hà Nội.

Minh Khôi

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.