Những người dự tuyển không cần mang theo bất cứ một bằng cấp hay một lá thư giới thiệu nào. Họ chỉ phải trả lời 163 câu hỏi rất đa dạng. Chỗ nào có diện tích lớn hơn,
Đại đa số những người đến dự tuyển đã làm thất vọng
Mặc dầu những người tham gia dự tuyển được yêu cầu không tiết lộ nội dung của bộ câu hỏi, nhưng vẫn có ai đó trong số họ đã chuyển test cho các cơ quan báo chí. Và rất nhiều độc giả của các cơ quan báo chí ấy bắt đầu tự kiểm tra kiến thức của mình theo các test mà
Về sau nhà tâm lý học Carl Brigham, người soạn test cho bang
Năm 1921, khi nhà bác học thiên tài Albert Einstein sang thăm Mỹ, các nhà báo đã đưa cho ông test mà
Từ tình huống này đã nảy sinh giai thoại về việc, khi Edison gặp Einstein và ra một số câu hỏi trong test do mình biên soạn cho nhà vật lý vĩ đại thì Einstein đã rầu rĩ bảo rằng có lẽ ông không thể nào xứng đáng với vị trí làm nhân viên cho Edison! Thực ra,
Năm 1929,
Copernik sáng chế ra… bánh mì kẹp nhân (butterbrot)
Nikolaus Copernicus vẫn được biết tới như một nhà thiên văn học vĩ đại, người lập nên học thuyết nhật tâm. Thế nhưng, theo hai nhà nghiên cứu lịch sử y học Handa và Kunin, tác giả của bài báo đã đăng trong ấn phẩm nghiêm túc "Tạp chí của Hiệp hội Y học Mỹ", Copernicus xứng đáng được tôn vinh không kém với tư cách là người đã sáng chế ra… bánh mỳ kẹp nhân. Sáng chế này do ông thực hiện vì những mục đích y học. Giả thuyết của hai nhà sử học như sau:
Thời trẻ, Copernicus đã nghiên cứu về y học trong hai năm tại Trường Đại học
Tháng 4/1520, pháo đài này bị vây hãm bởi quân Hiệp sĩ Teuton. Sau vài tháng trong cảnh khốn cùng, ở pháo đài đã phát sinh dịch bệnh bí hiểm, không rõ nguồn gốc, dù không làm nhiều người chết nhưng lại lan rất rộng. Những thứ thuốc thông thường đã được Copernicus sử dụng không mang lại hiệu quả. Thế là Copernicus quyết định nghiên cứu sâu về nguyên nhân gây bệnh. Vị bác sĩ thiên văn học này có rằng, nguyên nhân có thể nằm ở trong các thức ăn. Copernicus đã chia các cư dân trong pháo đài thành những nhóm nhỏ và cách ly họ với nhau rồi chia cho ăn theo những khẩu phần khác nhau. Kết quả cho thấy, chỉ có một nhóm không bị mắc bệnh, đó là nhóm không ăn bánh mì.
Trong trường hợp này, để phòng bệnh, thì dễ nhất là không ăn bánh mì. Tuy nhiên, trong điều kiện của một pháo đài bị bao vây, không thể làm như thế được vì không có lương thực khác thay thế khi bánh mì đen là đồ ăn chính yếu của mọi người. Khi đi tuần tra trên những hành lang dài, leo lên những cầu thang hẹp của pháo đài, những chiến sĩ bảo vệ pháo đài lắm khi đánh rơi khẩu phần bánh mì của mình xuống đất và đành phải nhặt lên, thổi bụi đi rồi ăn.
Copernicus nghĩ rằng, có lẽ do những bụi bẩn bám vào bánh mì như thế đã gây nên dịch bệnh. Ông nảy ra một sáng kiến, có lẽ nên quết vào bánh mì đen một thứ thức ăn nào đó màu sáng để nếu bụi bẩn bám vào thì có thể nhìn ra ngay. Và khi đó có thể gạt cả bụi bẩn cùng lớp thức ăn màu sáng đó. Và Copernicus đã chọn bơ làm lớp thực phẩm lót đó. Thế là loại bánh mì kẹp nhân đã ra đời. Và chẳng bao lâu sau dịch bệnh đã chấm dứt trong pháo đài.
Binh lính của Hiệp sĩ Teuton đã không chiếm được pháo đài cũng như không biết được bí quyết của bánh mì kẹp nhân. Khi pháo đài đã thoát khỏi cảnh bị bao vây, lãnh đạo Hiện hội bác sĩ và dược sĩ Adolf Buttenad từ
Hai năm sau khi nhà thiên văn học vĩ đại qua đời, năm 1545, sau một cuộc chiến giữa các lãnh chúa Đức, dịch bệnh tương tự đã xuất hiện. Buttenad nhớ lại kinh nghiệm của Copernicus và bắt đầu tuyên truyền món bánh mì kẹp nhân. Lần này thì món bánh mì như thế không giúp làm chấm dứt dịch bệnh nhưng bản thân nó đã được rất nhiều người ưa chuộng. Từ đó, bánh mì kẹp nhân với nhiều loại thực phẩm khác nhau đã trở thành món ăn khoái khẩu của nhiều thời đại ở nhiều nước.--PageBreak--
Đời là thế
Tạp chí Pháp "C'est la vie" đã công bố những số liệu thống kê về việc một người châu Âu điển hình đã sống cuộc đời kéo dài trung bình là 70 năm của mình như thế nào.
Theo đó:
- 30 năm đứng;
- 23 năm nằm;
- 17 năm ngồi;
- 16 năm đi;
- 8-9 năm làm việc;
- 6-7 năm ăn;
- Từ 3 tới 6 năm (tuỳ theo khoảng cách từ nhà tới nơi làm việc) ở trên các phương tiện giao thông đô thị 170 ngày đêm chờ ở bến tàu xe nếu tính rằng thời gian giữa các chuyến tàu xe không kéo dài hơn 10 phút;
- 2 năm trò chuyện;
- 2.128 ngày đêm (tức là hơn 6 năm) ngồi trước máy thu hình;
- 623 ngày đêm cười;
- 560 ngày đêm nấu ăn;
- 500 ngày đêm cảm lạnh;
- 504 ngày đêm dính dáng tới chuyện yêu đương;
- 440 ngày đêm học (loại trừ ở trường phổ thông);
- 420 ngày đêm bị mắc những căn bệnh nghiêm trọng hơn là cảm lạnh;
- 405 ngày đêm học ở trường phổ thông;
- 375 ngày đêm tham gia các lễ kỷ niệm gia đình hoặc xã hội;
- 305 ngày đêm điền vào các văn bản kê khai khác nhau;
- 250 ngày đêm đọc sách báo;
- 180 ngày đêm trò chuyện điện thoại;
- 177 ngày đêm (nếu là đàn ông) hay 531 ngày đêm (nếu là phụ nữ) tốn cho việc mặc quần áo;
- 140 ngày đêm đứng xếp hàng và cũng từng ấy thời gian (nếu là đàn ông) tốn cho việc cạo râu;
- 117 ngày đêm (đàn ông) hoặc 531 ngày đêm (phụ nữ) tốn cho việc tắm rửa;
- 110 ngày đêm làm tình;
- 108 ngày đêm chải đầu;
- 92 ngày đêm đánh răng;
- 50 ngày đêm khóc;
- 3 - 6 ngày đêm điền bảng kê khai thuế;
- 3 ngày đêm nhìn vào đồng hồ…
Để hút hết máu của một người, cần tới 1.200 nghìn con muỗi. Ở vùng đài nguyên Bắc Cực, trong giai đoạn ngập tràn muỗi cũng phải cần tới gần hai giờ mới huy động được từng ấy con muỗi.
Thành phố bóng tối
Thành phố Rattenberg ở Áo (chỉ có 440 cư dân, là thành phố nhỏ nhất nước này) nằm ở giữa các quả núi sâu đến mức suốt cả mùa đông, kể từ tháng 11, không hề có một tia nắng nào lọt vào đó. Đây là đô thị duy nhất trên thế giới ở xa hai cực trái đất nhưng lại có tình trạng tương tự như ban đêm vùng cực về mùa đông và tới mùa hè thì lại không được đền bù bằng tình trạng ban ngày vùng cực. Thành phố Rattenberg được bắt đầu xây dựng từ thế kỷ XIV tại một nơi kín đáo để tránh khỏi những đám trộm cướp đang hoành hành thời đó ở châu Âu.
Cách đây vài năm đã xuất hiện dự án đặt lên trên núi khoảng 15-30 tấm gương lớn quay theo hướng mặt trời để phản chiếu ánh sáng vào thành phố nhưng do không tìm được nguồn kinh phí đủ lớn để thực hiện nên cho tới nay, cư dân thành phố này trong mùa đông vẫn phải chịu cảnh sống suốt cả ngày đêm trong bóng tối.
Tòa nhà chọc trời đầu tiên
Tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới chỉ có 9 tầng nhưng cũng đã là toà nhà chọc trời (skyscraper). Vấn đề là ở chỗ, các tòa nhà chọc trời, hay như các chuyên gia vẫn nói, các tòa nhà cao tầng, có chung một đặc điểm chính yếu: bộ khung thép mà các bức tường neo vào đó. Nếu ở các tòa nhà bình thường, tường phải giữ trên mình trọng lượng của nó và của cả toà nhà thì ở các tòa nhà chọc trời, bộ khung thép gánh chịu phần trọng lực chủ yếu. Còn các bức tường có thể được dựng nên từ những vật liệu tương đối nhẹ và không cần chắc chắn lắm và không phải bị lực kéo trĩu xuống dưới nhiều. Tòa nhà đầu tiên như vậy đã được xây dựng ở
Tiếp theo đó là một tòa nhà 10 tầng (66m), cũng được xây dựng ở