Nhà văn Bùi Việt Sỹ: “Ăn” vào hậu vận

Vào những ngày đầu của tháng 6 năm 1996, cách nay vừa đúng 20 năm, tôi có dịp ăn, ở, đi lại cùng nhà văn Bùi Việt Sỹ những 9 – 10 ngày, theo đúng nghĩa đen, ở một khách sạn tại quốc đảo Singapore. Ban ngày, gần như nghỉ. Sẩm tối, lóc cóc lên ôtô đến một địa điểm đã ấn định, xem quần vợt. Đôi khi hứng lên, lại gọi taxi, mò ra chợ Tiểu Ấn Độ, chợ Tàu làm “ta ba lô” và ngắm nghía hàng hóa...

Hồi ấy, tôi là phóng viên thể thao của Báo Hà Nội mới. Còn Bùi Việt Sỹ là phóng viên thể thao kiêm Phó trưởng Phòng Văn hóa – Thể thao của Báo Lao động.

Ấy là dịp hai chúng tôi cùng dăm bảy phóng viên thể thao của TP Hồ Chí Minh được Nhà máy Bia Việt Nam mời đi đưa tin, viết bài về giải quần vợt Heineken mở rộng.

Chính vào những ngày tha hương hy hữu này mà chúng tôi có dịp trò chuyện với nhau, tâm sự với nhau và hiểu thêm nhau nhiều lắm.

Tôi để ý thấy Bùi Việt Sỹ thường xuyên ho khục khặc và uống rất nhiều thuốc. Sáng sáng, cứ mỗi khi ăn sáng xong, ông lại đưa cả vốc thuốc Tây vào người. Nhiều lúc, tôi cũng thấy ái ngại cho ông. Tôi nghĩ: Nếu không có sự kiên trì vì sức khỏe và cả “sức khỏe” để uống nữa, thì ông cũng khó mà làm đều đặn mỗi ngày một việc nhàm chán và buồn tẻ đến như thế!

Hỏi thì ông bảo: “Mình lắm bệnh lắm. Nào là hen phế quản. Nào là thấp khớp. Nào là hồng cầu thấp. Có lần còn “dính” chảy máu dạ dày. Vì thế mà hậu quả và di chứng để lại nhiều. Thế hệ mình có nhiều người thể trạng yếu và suy dinh dưỡng nặng. Nhưng còn sống được đến này hôm nay, ơn trời, cũng là may mắn lắm rồi!”.

Khi tôi hỏi: “Tại sao, anh lại nói thế?” thì Bùi Việt Sỹ trả lời: “Năm 1950, lúc mới 4 tuổi đầu, ở ATK Định Hóa (Thái Nguyên), mình bị sốt rét ác tính. Tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Gia đình tưởng chết, đã chuẩn bị một chiếc chăn chiên để liệm. Trong cơn tuyệt vọng ấy, chẳng hiểu tại làm sao, tự nhiên mình lại mở mắt, quơ tay đòi uống nước, rồi tỉnh dậy và dần dà qua khỏi”.

“Thế cái dạo anh sang Liên Xô thì sao? Chả nhẽ không nhờ thế mà thể lực có dịp được phục hồi sao?” – Tôi hỏi. Bùi Việt Sỹ cười cười: “Mình có đến 5 năm theo học Đại học Văn hóa Công đoàn (từ 1980 đến 1985) ở Leningrad (Saint Petersburg) đấy chứ! Mà được cấp sinh hoạt phí cũng cao, những 150 rúp, hơn hẳn sinh viên ở nhiều trường khác chỉ được có 90 rúp.

Nhưng hồi ấy, chỉ vì thương vợ con ở nhà đói khổ, thiếu thốn, nên cũng như nhiều cán bộ du học khác, máu tích cóp nổi lên. Đa phần bọn mình đều “tiểu tu kiến thức”, “trung tu sức khỏe” và “đại tu kinh tế”. Cũng vì “đại tu kinh tế” mà chúng mình thường xuyên ăn mì ống hầm xương bò ống (loại thực phẩm dễ kiếm và rẻ tiền nhất), không bao giờ dám tơ hào đến rau, hoa quả… nên người nào, người nấy da vàng vọt như bệnh nhân thiếu máu, đến nỗi chi bộ phải yêu cầu (và gần như là đưa vào nghị quyết): “Để đảm bảo sức khỏe, tiền ăn mỗi tháng của mỗi người không được tiêu dưới 25 rúp”. Ngày ấy, đến một gói chè nhúng mà cũng tận dụng đến vài lần. Sau khi đã dùng một lần, có khi còn treo lên tường để tận dụng nhúng thêm một cách hết sức triệt để. Bây giờ nghĩ lại, vẫn thấy thật kỳ cục”.

Như để bù lại những tháng ngày “thấy thật kỳ cục” ấy, sau này, Bùi Việt Sỹ  đã ngồi vào bàn viết và viết liên tục. Trong ba năm (1987, 1988, 1989), ông hoàn thành ba cuốn tiểu thuyết, trong đó có “Người đưa đường thọt chân” và coi “Người đưa đường thọt chân” như là sự ký thác của đời mình.

Bằng thủ pháp đồng hiện, thời gian của tiểu thuyết đã bó tròn 40 năm, tính từ năm 1947 (năm Tây nhảy dù xuống Bắc Kạn) đến năm 1988 (thời kỳ bắt đầu đổi mới ở Việt Nam) với không gian hoạt động của đủ các nhân vật ở đủ màu da. Tất cả lại được bó tròn trong có hai tiếng đồng hồ là khoảng thời gian chờ làm thủ tục gửi hàng về nước của một người Việt.

Qua đó, thấy được đời sống lẫn suy nghĩ, toan tính của người Việt một thời ở Liên Xô cũ. Và người ấy vốn tay trắng lại trở về trắng tay (xoay được tiền để mua hàng, đã khó; mua được hàng theo ý muốn, đã khó; nhưng qua mặt được hải quan, gửi được hàng về nước theo mong ước cá nhân nhằm thu lợi nhuận cao, thậm khó hoặc không thể thực hiện được).

Cái tên của tiểu thuyết gắn với hình tượng một chiếc compa, một chân dài, một chân ngắn và dù chuyển động như thế nào thì nó vẫn quay về chỗ cũ, là thành công về mặt tư tưởng của Bùi Việt Sỹ. Nhưng có lẽ thành công hơn vẫn là khả năng dự báo sự tan rã không tránh khỏi của Liên bang Xô viết. Đối với văn chương nói chung, có được sự tạm coi là dự báo như thế, không phải đơn giản và không phải ai cũng làm được, tác phẩm nào cũng có được.

Sau đó thì ông nghỉ một mạch đến một phần tư thế kỷ, để rồi trong 3 năm (2013, 2014, 2015) cho sinh hạ liên tiếp 3 tiểu thuyết: “Dòng sông chối từ”, “Chim ưng và chàng đan sọt”, “Hai người đàn ông trong đời chị” và tiểu thuyết nào cũng có “sự” cả. Trong số này, “Chim ưng và chàng đan sọt” là tiểu thuyết lịch sử về thời nhà Trần.

Ông bảo: “Trong lịch sử, viết về Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão chỉ có ít dòng. Vì thế muốn viết về hai nhân vật này, ít ra phải biết phục dựng từ chi tiết, giống như người làm sử phục chế một con ngựa đá cổ có khi chỉ căn cứ vào một mẩu chân, mẩu đuôi còn sót lại. Chưa kể, công việc của người viết tiểu thuyết còn khó khăn hơn nhiều là làm sao phục dựng lại được “dấu ấn thời đại”, thổi được “hồn thời đại” vào và làm sao lấy lịch sử để nói được chuyện hôm nay.

Qua “Chim ưng và chàng đan sọt”, tôi cũng muốn lý giải: Chính ý thức thường trực chống giặc phương Bắc, việc triệt để sử dụng nhân tài trong chiến tranh và vấn đề ruộng đất của nông dân sau chiến tranh được đặt ra, được giải quyết hợp tình, hợp lý của ông cha ta mà Đại Việt (lúc ấy chỉ có 3 triệu người) thắng được một đế quốc Nguyên Mông khổng lồ và thiện chiến”. Tôi đã đọc kỹ tiểu thuyết này, thấy đề tài lịch sử, cũng là một thế mạnh sở trường của Bùi Việt Sỹ và “Chim ưng và chàng đan sọt” cũng chẳng hề kém cạnh “Người đưa đường thọt chân”.

“Như vậy là cứ cách 25 năm, ông lại sinh hạ một lứa tiểu thuyết ở dạng sinh ba, đứa nào đứa ấy đều có số phận và cá tính cả. Chả nhẽ ông thai nghén khó khăn đến thế sao? Còn khi đọc chúng, người đọc cảm thấy rất hấp dẫn. Phải chăng sự hấp dẫn này, có nguồn gốc từ sự hiểu biết và trải nghiệm của cá nhân nhà văn?”- khi tôi đặt ra câu hỏi như vậy, Bùi Việt Sỹ trả lời ngay: “Tôi viết văn cũng nhẹ nhàng, không khó nhọc lắm đâu. Vấn đề là lúc nào thấy phải viết, có nhu cầu phải viết thì tập trung cao độ để viết. Tôi nghĩ, bên cạnh sự hiểu biết, sự trải nghiệm, còn cần phải có tư tưởng nữa. Tư tưởng mới là cốt lõi, là cái đầu tiên”.

Trong cuộc đời làm phóng viên thể thao, Bùi Việt Sỹ đã kịp để lại dấu ấn. Ngoài việc đưa tin, viết bài không kể, ông còn mở, giữ và “nuôi” chuyên mục “World cup tranh hùng” thuộc diện “độc nhất vô nhị” đến trên 300 lần trên Báo Lao Động. Ông cứ lấy tích từ “Tam quốc diễn nghĩa” mà liên hệ, mà kết nối với bóng đá. Chuyên mục này thu hút độc giả đến nỗi có đến 3 – 4 người gặp ông để làm luận văn thạc sĩ, từ đó rút ra mối liên hệ giữa văn học và báo chí.

Ngay ở Worldcup gần đây nhất (2014), nhà báo Trương Thu Bình (khi còn là Phó Tổng biên tập Báo Bóng đá) vẫn còn có tham vọng mở lại mục này trên tờ báo của mình. Nhưng rồi, Trương Thu Bình cũng kịp nhận ra: Viết được như Bùi Việt Sỹ là rất khó! Biết kiếm đâu ra một Bùi Việt Sỹ thứ hai nữa!

Đã có mấy lần, Bùi Việt Sỹ than thở với tôi: “Tiếc rằng “Người đưa đường thọt chân” – tác phẩm ưng ý nhất của tôi, lại chưa được quan tâm đúng mức. Có vẻ như nó bị rơi vào im lặng, thật đáng tiếc! Giá như…”.

Tôi chia sẻ: “Bây giờ, số nhà văn, nhà thơ đọc tác phẩm của nhau ít lắm. Tôi biết có khối bạn văn, bạn thơ gặp nhau suốt, thậm chí ăn nhậu với nhau suốt, vậy mà có biết người ở bên mình viết gì đâu, có tác phẩm nào đâu. Cũng thiếu gì người mang tiếng trong ban chấm giải này, ban chấm giải nọ, có khi chỉ bỏ phiếu theo lối “nghe hơi nồi chõ”. Có một người còn bảo: “Tác phẩm này có vấn đề đấy. Rất khó xét giải”.

Khi tôi vặn vẹo: “Thế anh đã đọc nó chưa hay chỉ nghe người khác nói về nó. Thế nhỡ người ta có động thái “dìm hàng” thì sao''? thì người này gãi tai thú nhận: “Đúng là tôi chỉ mới nghe người khác nói mà nói theo”.  Với riêng anh, cuối cùng thì “Dòng sông chối từ”, cũng được trao giải nhất văn học công nhân của Tổng Liên đoàn Lao động giai đoạn 2010 - 2014; “Chim ưng và chàng đan sọt” cũng được trao giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi tiểu thuyết lần thứ tư 2010 – 2015 của Hội Nhà văn Việt Nam đó thôi. Như vậy, anh cũng là nhà văn “có hậu” và “ăn” vào hậu vận rồi còn gì”. 

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Nếu việc dán nhãn phân loại độ tuổi đã trở thành điều kiện bắt buộc với tác phẩm điện ảnh, xuất bản... trước khi đến tay công chúng thì ở lĩnh vực âm nhạc, tấm biển cảnh báo này gần như bỏ ngỏ. Thế nên không lạ khi làng nhạc liên tục vấp phải tranh cãi vì những MV có nội dung người lớn.

Cyberpunk Việt: Những linh hồn lạc giữa kỷ nguyên số

Cyberpunk Việt: Những linh hồn lạc giữa kỷ nguyên số

Có một dòng văn học vừa lạ vừa quen đang âm thầm chảy trong lòng đô thị Việt. Những con hẻm ướt ánh đèn neon, tiếng rao hàng rong lẫn trong tiếng ù ù của máy chủ, quá khứ và tương lai va vào nhau chẳng một lời báo trước. Đó là cyberpunk, thứ ánh sáng le lói phản chiếu nỗi cô đơn của con người giữa thời đại số.