Hơn chục năm nay, gắn bó với hàng ngàn gia đình bị hậu quả của chiến tranh với tên gọi “Nỗi đau da cam”, chứng kiến sự hủy diệt tàn khốc của loại “thuốc diệt cỏ” mà quân đội Mỹ rải xuống chiến trường miền Nam, để hơn nửa thế kỷ sau di chứng vẫn còn đó như một nỗi đau tột cùng của thân phận thiệt thòi bé mọn. Người phụ nữ này hàng ngày, hàng giờ vẫn kiên trì với công việc mà theo nhà Phật nói là: “làm phúc”, đi tìm nguồn tài trợ cho những gia cảnh đầy thương cảm. Hậu quả tội ác của chiến tranh.
Ngày 22/12/1979, nhà trường có lệnh Tổng động viên, 23 tuổi chị lên đường nhập ngũ, khi vừa học xong Khoa Thư viện của Trường Văn hóa nghệ thuật Hà Nội. Năm 1980, Trường Quân chính ở Sơn Tây muốn thành lập thư viện, chị được điều lên trên ấy, nhưng vốn bản tính xông xáo, ngoài công việc của phòng thư viện chị kiêm luôn cờ, đèn, kèn, trống, băng cờ khẩu hiệu…
Sau 5 năm gắn bó với vùng đất Ba Vì đến tháng 3/1985, chị được chuyển về thủ đô, công tác ở Quận đội Hai Bà Trưng làm nhân viên chính sách hậu phương quân đội. Giải quyết chính sách cho các gia đình thương binh, liệt sĩ. Năm 1990, Quận đội chuyển tên thành Ban Chỉ huy Quân sự quận Hai Bà Trưng. Phải nói ngay là vào những năm giữa của thập niên 80 thế kỷ trước, đất nước ta đang trong những năm cuối của thời kỳ bao cấp, kinh tế còn khá chật vật. Cùng với phong trào đền ơn đáp nghĩa của Nhà nước, UBND TP Hà Nội giao cho các ban, ngành đi vận động các cơ quan, xí nghiệp nằm trên địa bàn ủng hộ những gia đình trong chế độ chính sách được ưu tiên.
Trên địa bàn thành phố có rất nhiều các công ty, xí nghiệp mà chị Dung đã đặt chân tới. Chị đến xin Công ty Hóa chất người ta cho dầu, tới Xí nghiệp Nước mắm thì được cho nước chấm, vào Nhà máy Dệt 8-3 lại cho khăn mặt, khăn tay, Nhà máy Đồ hộp cho đậu phụ…
Lúc đó ở tổ công tác của chị có ba người, chị và một chị khác cùng đồng chí chính trị viên trong cơ quan, tới địa điểm nào thì có thêm một cán bộ phường ở nơi đó dắt xuống các nhà thuộc diện đối tượng chính sách có con, hoặc chồng ở vùng 1 đang chiến đấu ở ngoài mặt trận (Vị Xuyên, hay Campuchia). Và họ còn tới cả những gia đình có con ở đảo, vùng xa. Trên những chuyến xe đạp của họ, một bên can nước mắm, một bên can dầu và không quên mang theo một cái phễu để đong vào chai nửa lít nước mắm, kèm theo vài bìa đậu phụ phân phối cho mỗi gia đình. Khi đến nơi, mời bác này ra chia, bác kia ra nhận… Cuộc sống tíu tít bộn bề nhưng chị cảm thấy vui khi mang tới cho các gia đình ấy một phần thực phẩm rất nhỏ để thêm thắt cho cuộc sống thiếu thốn, đói khổ lúc bấy giờ.
Cũng trong thời gian công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự quận Hai Bà Trưng, cơ duyên đưa chị đến với công việc gắn bó hơn chục năm sau này làm về công việc liên quan đến hậu quả chất độc da cam là Hội Cựu chiến binh, có trụ sở đối diện với nơi chị đang công tác. Thi thoảng lúc nhàn rỗi chị Dung lại băng qua đường sang chơi với mấy bác cựu chiến binh già.
Dần dà thân quen, khi có việc đi thăm lại đồng đội xưa, các bác lại hỏi chị: "Cháu có muốn đi không?", chị nhanh nhẹn gật đầu. Trên những chuyến đi dọc dài ấy, chị đã tận mắt chứng kiến những cảnh ngộ thương tâm. Những đứa trẻ vẹo vọ, người không ra người nằm thiêm thiếp trên những cái giường cũ nát được ẩn sâu vào trong một góc của căn phòng vốn dĩ chật hẹp, tù túng. Những khuôn mặt khắc khổ của người bố, sự tàn tạ của người mẹ, xót xa tủi hổ của ông bà…
Giữa những năm 80, tuyên truyền về chất độc da cam không nhiều như sau này. Người ta chỉ biết con thương binh, liệt sĩ bị bệnh hiểm nghèo. Ở nhiều nơi do tính hủ tục và mê tín một số người ác miệng bảo: "Gia đình ăn ở thất đức không ra gì nên mới sinh ra đứa trẻ vẹo vọ, dị dạng thế…"; hay "Đất ấy là đất dữ, động long mạch, nhà có người bị ma nhập".
Tận cùng nỗi đau, chị từng chứng kiến cảnh vợ của một anh bộ đội từ chiến trường về sau này sinh 4 người con thì cả 4 đều dị dạng, vào một ngày tủi hổ, quẫn bách quá người mẹ khốn khổ này đã ngã vào bếp lửa và chết. Càng đi, càng chứng kiến trăm cảnh ngộ trớ trêu, nghìn thân phận thiệt thòi. Không khỏi xót xa, đau đáu và trăn trở, người phụ nữ ấy khi thành phố chưa thành lập Hội Nạn nhân chất độc da cam thì chị đã mày mò trên khắp các nẻo đường tìm về các làng quê để đến với những gia đình mang nỗi đau da cam.
Năm 1985 - 1987, chị mới có một con, đến các gia đình có cháu nhỏ bị di chứng da cam ban đầu chị cũng thấy khiếp sợ. Nhưng ngay sau đó chị nghĩ: "Mình còn may mắn hơn các bác ấy rất nhiều". Chị bảo: Mình lớn lên trong thời bình, khi trưởng thành đất nước đã thống nhất, năm 1979 Tổng động viên vì có chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Mình biết một ít về chiến tranh nhưng không trực tiếp dấn thân đi vào cuộc chiến đấy. Mình chỉ ở hậu phương không phải gian lao, vất vả nhưng rất thông cảm với những người đi vào chiến trường, đi mà có khi còn không có ngày về…". Vượt qua sự sợ hãi, nỗi cảm thông, sự xót xa, tình thương đã bao trùm tất thảy, chị làm công việc dấn thân đầy tự nguyện.
Năm 1998, chị được bổ nhiệm về Ban Chỉ huy Quân sự của thành phố, công việc của chị vẫn làm về giải quyết chính sách cho gia đình thương binh, liệt sĩ. Hằng ngày chị tiếp các bác, các anh, các chị sau khi ở chiến trường trở về do mất giấy tờ hoặc vì một lý do gì đấy mà chưa được làm sổ thương binh, liệt sĩ. Theo Thông tư 16 chị hướng dẫn cho người ta. Càng làm, chị càng say, càng thích. Các bác thương binh, các mẹ liệt sĩ sau khi được chị tận tình hướng dẫn đến khi có sổ thì cảm kích đến tận cơ quan cảm ơn bằng con gà hay cân gạo nếp.
Cuộc sống êm đềm tưởng sẽ trôi đi thì chị biết mình bị mắc bệnh ung thư. Đất trời quay cuồng sụp đổ. Chị nghĩ đến cái chết đang đến gần. Và, người phụ nữ này lại hằng ngày lặng lẽ lên chùa ngồi một mình tĩnh lặng. Lúc này chị xin về hưu để hằng ngày cầu kinh, niệm Phật. Trời Phật độ trì, chị chưa thể chết được, bệnh tật được đẩy lùi, để sau này chị tiếp tục công việc như hiện giờ.
Tháng 6/2004, Trung ương hướng dẫn thành lập Hội Nạn nhân chất độc da cam các tỉnh, thành. Các bác trong Hội Cựu chiến binh nghĩ ngay đến chị. Các bác ấy bảo: "Chẳng phải tìm đâu xa, tìm ngay cái Dung làm chính sách thương binh, liệt sĩ khi xưa ở bên đường ấy. Nó đã đến cả trăm gia đình có con bị da cam rồi". Người "hàng xóm" cũ được triệu tập sang gặp các bác cựu chiến binh. Chị nói với các bác: "Quân hàm của cháu khi về hưu mới có trung tá thôi không biết giao nhiệm vụ thế này có đảm đương được không…". Nhưng, chị nhanh chóng nhận lời với công việc vốn thành thạo từ lâu.
Ngày 4/12/2004 UBND TP quyết định thành lập Hội Nạn nhân chất độc da cam, chị là 1 trong 11 thành viên đầu tiên của Ban chấp hành Hội Nạn nhân chất độc da cam Hà Nội. Hội khi mới thành lập chỉ có 3 người: Trung tướng Tiêu Văn Mẫn, nguyên Chính ủy Quân khu V làm Chủ tịch Hội, bác Mai Văn Thuận làm Phó chủ tịch Hội nhưng lại đang đương chức tại Hội Cựu chiến binh, và chị là thư ký của Hội.
Mấy tháng đầu thành lập, Hội Nạn nhân chất độc da cam Hà Nội chưa có trụ sở, hằng ngày chị đến nhà bác Mẫn ở khu Nam Đồng nhận công việc rồi mày mò giải quyết. Công việc không đơn giản, kết nối lại quãng thời gian đến với những gia đình có nỗi đau da cam thì qua thời gian họ chuyển nhà, hoặc có những đứa trẻ đau ốm đã mất, rồi cũng do giải phóng mặt bằng gia đình họ đã dọn đi nơi khác… Chị vẫn ngày giờ tìm kiếm những gia đình không may mắn để thêm vào danh sách gia đình cần được hưởng chế độ, cần được hỗ trợ.
Đến giữa năm 2005, Hội Nạn nhân chất độc da cam Hà Nội được Sở Tài nguyên môi trường cho mượn tạm một căn phòng nhỏ ngay trong khuôn viên của Sở để làm trụ sở. Lúc này Hội tuyển thêm một bác bộ đội về hưu về làm kế toán. Phải nói thêm là công viêc này hoàn toàn tự nguyện. Tất cả mọi người trong Hội đều làm không lương. Bàn ghế sơ sài, vật chất thiếu thốn, gia tài có 3 cái bàn gỗ cũ xin lại của Sở Môi trường, một điện thoại bàn để liên lạc, nhưng công việc lại ăm ắp tình người. Có một câu chuyện thương tâm làm cho chị nhớ mãi...
Với những người chiến sĩ cách mạng sau ngày thống nhất đất nước trở về sinh ra những người con dị tật thì được hưởng tiêu chuẩn bị ảnh hưởng chất độc da cam còn với những người cũng đã từng khoác trên mình bộ quân phục màu xanh áo lính nhưng lại đào ngũ và không may sinh ra những người con dị tật thì biết sao đây?!
Đó là một buổi chiều chị thấy người đàn bà kéo chiếc xe bò kẽo kẹt đi trên con phố của thủ đô. Trên xe là ba đứa trẻ tàn tật. Chúng ngơ ngác, ngờ nghệch. Người đàn bà áo ướt đầm mồ hôi, đứng ở ngã tư đường, tháo cái nón rách nát rồi ngồi thụp xuống khóc: "Tôi trả con cho các ông, các bà đây!". Chị đi qua và dừng lại, hỏi chuyện mới biết người đàn bà này quê ở xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Tây, đã đi cả quãng đường 40 cây số ra trung tâm kể về gia cảnh của mình. Chồng bà trước đi bộ đội nhưng lại đào ngũ. Chính vì vậy, việc làm chế độ nạn nhân chất độc da cam của gia đình có phần khó khăn. Thương cảm, cho những đứa trẻ vô tội, chị đã giúp gia đình này được hưởng chế độ.
Chị từng chứng kiến những đứa trẻ bị nhiễm chất độc điôxin nhẹ thì gây nên mù lòa, nặng thì hình hài biến dạng nằm bất động, hay ngớ ngẩn, động kinh. Chị cũng nhìn thấy nghị lực phi thường của những đứa trẻ không may mắn. Có trẻ mù nhưng năng khiếu về ca nhạc rất hay. Như cậu bé Tùng đàn bầu được đi đến các nước trên thế giới thể hiện khả năng âm nhạc của mình. Chị đã rớt nước mắt khi thấy một cậu thanh niên cả ngày chỉ ngồi trên xe lăn nhưng lại đứng trên bục giảng đó là thầy giáo Đức ở Vĩnh Phúc. Rồi đứa trẻ khác nhà ngay tại con phố cổ của thủ đô, Hàng Buồm, thân thể em dặt dẹo đến độ em không thể nào đi được mà chỉ có thể lết người nhưng ngày ngày em vẫn đi bán hàng tạp hóa trên chiếc xe lăn nhỏ của mình để nuôi một đứa em đang học đại học.
Từ khi thành lập Hội Nạn nhân chất độc da cam, những ngày lễ, tết, trung thu, 1-6 những đứa trẻ thiếu may mắn này vẫn nhận được phần quà ấm áp do chị cất công mang đến. Có năm đến sáng 30 tết rồi, chị mới tìm được nguồn tài trợ từ một tổng công ty cho suất 250.000nghìn/1 gia đình da cam. Chị đến UBND một xã và được trả lời, mọi người của ủy ban đã nghỉ tết hết rồi lấy đâu ra người đi gọi gia đình nạn nhân chất độc da cam đến Ủy ban mà cho chị phát quà được. Chị phải xin danh sách của những gia đình nạn nhân da cam trong xã rồi tự mình đến từng nhà hẹn họ cuối giờ chiều đến UBND xã để người của tổng công ty về phát quà. Có gia đình không có người đưa trẻ là nạn nhân da cam đi được, chị lại ẵm bồng những đứa trẻ trên tay, địu những đứa bé da cam trên vai đến sân của UBND. Miệt mài, kiên trì, chị kiên định với công việc tâm huyết đầy say mê.
Phụ nữ đa phần thích đi siêu thị, đi chợ, sắm sanh đồ đạc, xúng xính váy áo, trang điểm phấn son. Nhưng, chị thì không. Dung dị, tự nhiên, chân thành, mộc mạc, không câu nệ hình thức, tính tình khí khái, chị có niềm vui khác: Đắp bồi cho những gia đình bất hạnh được thêm chừng nào tốt chừng nấy. Có người bảo với chị rằng: "Tự nhiên lại chuốc cái khổ vào người". Chị nhoẻn miệng cười: "Khổ gì chứ. Công việc này càng làm lại càng say mê. Càng không biết mệt"…