Không hiểu sao, cứ mỗi lần gặp ông, tôi cứ có cảm giác những đau đáu về mảnh đất Kinh kỳ trong ông không bao giờ vơi cạn. Gần cả cuộc đời gắn bó với mảnh đất, con người Hà Nội, chắc là cũng có nhiều phụ nữ Hà thành yêu mến lắm. Nghe nói thế, ông tủm tỉm cười.
Nghe danh ông đã lâu, nhưng ông là bề trên, thuộc hàng "bách khoa" về Hà Nội nên tôi thấy rất ngại khi gặp ông. Một lần mạnh dạn đến gõ cửa, bỗng thấy hóa ra con người mình "kính nhi" lâu nay gần gũi, cởi mở đến lạ. Người này ham mê bạn bè, thích nước chè, rượu thì chả uống, vui lắm mới nhấp tí ti. Dường như với ông, bạn bè là nguồn vui nên có được "đối tác hợp cạ" là ông cởi mở, hồ hởi và luôn có nụ cười thân thiện.
- Hiểu biết một cách tường tận về Hà Nội như thế, chắc ông cũng gốc gác Hà Nội chứ?
- Không, tôi là trai Hưng Yên, nhưng ông bố tôi trước kia làm ngành bưu điện nên phải đi nhiều vùng đất. Lúc ở Hà Nội, lúc ở Huế, lúc Nha Trang. Tôi cũng theo bước chân của gia đình công chức loại trung bình thời đó. Hưng Yên cách Hà Nội chỉ hơn 30 cây số nên họ hàng ra buôn bán ở Hà Nội cũng đông. Khi ở miền Trung, miền
- Được biết bà nhà là cháu nội của ông Trần Xuân Soạn - Tả quân đô thống phủ trưởng phụ sự, phụ trách quân đội của kinh thành Huế thời Vua Hàm Nghi. Mối tình của ông với bà thế nào?
- Trở thành chàng rể của gia đình ông Trần Xuân Soạn cũng là do hoàn cảnh kháng chiến, hoàn cảnh thực tế gia đình chứ không phải do yêu đương lãng mạn đâu. Hồi kháng chiến, tôi làm văn nghệ quân đội Khu 4 cùng lứa với nhà văn Thanh Châu, nhà báo Phấn Đấu, nhà thơ Hữu Loan... Hồi đó gia đình tôi tản cư về Thanh Hóa, năm 1948 bố tôi mất. Tôi thì ở bộ đội, chỉ còn mẹ ở nhà. Bà giục tôi lấy vợ để có người ở nhà với bà. Đoàn tản cư ngày đó đông lắm, cũng có nhiều cô rất xinh đẹp, nhưng bà bảo tôi phải lấy một cô gái quê, phải lấy người ít nhất là biết gánh gồng vì thời loạn lạc chiến tranh phải di chuyển nhiều. Qua sự giới thiệu rồi nên duyên.
- Ngắm nhìn hai cô con gái xinh đẹp của ông, hẳn bà nhà hồi ấy đẹp lắm. Đám cưới có gì đặc biệt không ông?
- Bà nhà tôi hồi đó thuộc loại xinh xắn của vùng Đan Nê. Bố mẹ vợ là tiểu thương buôn bán nên đám cưới cũng thuộc loại sang lúc bấy giờ. Đám cưới kháng chiến nhưng cũng làm xôm trò lắm, cô dâu ăn mặc theo kiểu thị thành, đi giày muyn, áo dài màu cá vàng, khăn nhung the.
- Vậy thủ đô Hà Nội đón chàng trai Nguyễn Vinh Phúc từ khi nào ông nhỉ? Và ông bắt đầu đến với việc nghiên cứu Hà Nội thế nào?
- Mùa đông năm 1954, tôi về Hà Nội và trở thành công dân đích thực của thủ đô từ bấy đến nay. Thực ra lúc về Hà Nội là chỉ để dạy học chứ chưa nghĩ đến chuyện nghiên cứu. Trong quá trình dạy, thấy sách giáo khoa có nhiều điều chưa thỏa mãn với mình. Hà Nội còn nhiều cái hay quá. Đa phần người dạy học những năm đầu hòa bình lập lại, nhất là ở các trường tư, mỗi giáo viên thường phải đảm nhận vài môn.
Thời đó tôi cũng phải dạy văn, sử, địa, tiếng Pháp, tới khi quốc lập hóa mới chuyên dạy văn. Trong chương trình văn học có nhiều nhân vật người Hà Nội: bà Đoàn Thị Điểm làm dâu ở làng Phú Xá, Nhật Tân; bà Hồ Xuân Hương từng ở xóm Tiên Thi, phường Kháng Xuân; rồi bà Lê Ngọc Hân ở làng Nành... đều là những vùng phụ cận Hà Nội, thời đó Hà Nội bé lắm. Tôi muốn giảng cho học sinh biết đến tận gốc rễ mọi vấn đề nên cố gắng tìm cho ra ngọn nguồn.
Càng tìm hiểu càng đam mê và càng đi thì càng thấy thú vị. Nhưng nói thật thời đó cũng còn có động cơ cá nhân. Lúc đó tôi dạy trường tư, muốn được dạy nhiều giờ thì phải dạy hay, học sinh yêu mến thì hiệu trưởng mới ưu đãi mình. Vì thế ngấm ngầm có sự "cạnh tranh" nhau, nhưng cũng chính qua đó thêm cơ hội để quan sát sự vật, hiện tượng. Thế rồi đi vào nghiên cứu Hà Nội lúc nào không hay và càng nghiên cứu càng thấy thích. Còn học sinh nghe mình giảng thì cũng rất thú vị.
- Có phải từ ấn tượng như thế mà ông bước hẳn sang nghiên cứu về Hà Nội?
- Phải nói thế này, mình là người chịu đi, chịu ghi chép, cố gắng phát hiện ra những điều mà lâu nay mọi người thường không để ý. Càng đi sâu vào những cái quá khứ đó thì lại càng thấy nó vấn vít với mình và càng say mê theo đuổi tìm về những miền quá khứ đó để ngẫm ngợi. Sau này khi đã nghỉ dạy học, tôi có nhiều cơ hội để thực hiện khát vọng nghiên cứu sâu về Hà Nội. Càng nghiên cứu sâu mới thấy cõi đất Hà Nội còn chất chứa nhiều điều kỳ thú mà không bao giờ có thể khai thác hết được.
- Vì thế mà người ta bảo ông là người suốt đời đam mê "món" Hà Nội học và còn phong ông là nhà Hà Nội học.
- Tôi rất cảm động là sau khi cuốn “Đường phố Hà Nội” ra đời, bạn đọc gọi tôi là nhà Hà Nội học. Chẳng có quyết định của một cấp nào, nhưng cái danh xưng mà dân gian phong cho là sự đánh giá của bạn đọc với công việc mình đã làm. Đầu tiên chỉ là cách gọi vui vẻ, hồn nhiên, sau này thành thương hiệu ngụ ý công nhận sự nghiên cứu tương đối sâu của tôi về Hà Nội.
- Trong khi cũng có nhiều người nghiên cứu về Hà Nội, cũng ra nhiều đầu sách, nhưng chỉ mình ông nhận được sự tôn vinh này. Ông có bị đố kỵ không?
- Có đấy. Cũng có người ghen ghét dẫn đến chỗ nói xấu, cạnh tranh. Nhưng tôi chẳng quan tâm. Việc mình làm cứ làm, bạn đọc sẽ kiểm chứng ai viết nhiều hơn ai, ai viết kỹ hơn ai. Riêng các đầu sách viết về Hà Nội, khi là tác giả, khi là chủ biên thì độ hơn hai chục cuốn. Trong năm 2009 và 2010, chuẩn bị cho Tủ sách 1000 năm Thăng Long và chào mừng Đại lễ, các nhà sách tái bản và xuất bản các cuốn: "Các thành hoàng và tín ngưỡng Việt Nam", "1000 năm Thăng Long - Hà Nội", "Hà Nội thành phố 1000 năm" "Những nẻo đường du lịch", "Hà Nội phong tục, văn chương", "Hà Nội cõi đất, con người", "Hà Nội phong tục và lễ hội"...
- Hiểu biết về Hà Nội cặn kẽ như thế thì xin bái phục ông rồi. Nghe nói những kiến thức về Hà Nội được ông đưa vào bài giảng khiến nhiều học trò mê mẩn ông lắm. Thế có cô nào được ông để mắt không?
- Tôi vẫn nhớ những tiết giảng về Truyện Kiều, về thơ Hồ Xuân Hương, về thơ Hồ Chủ tịch... học sinh ngây ngất ngồi nghe tôi phân tích cả tiết không chán. Học sinh tôi dạy từ năm 1955 đến khi tôi nghỉ hưu có tới 30 lứa học trò. Nhiều học sinh sau này gặp lại vẫn còn nhắc nguyên văn lời tôi giảng, vẫn còn ấn tượng thầy hay mặc áo ký giả, đội mũ phớt...
(Nói đến đây ông thừ ra nhìn tôi bằng cái nhìn rất hóm. Tôi lờ mờ nhận ra sau sự hóm hỉnh kia rằng, thời trai trẻ, ta cũng là một anh giáo "kháu trai" trên bục giảng và cái đèm đẹp hút hồn trong từng câu chữ từ những bài giảng đã khiến không ít đồng nghiệp nữ và nữ sinh kín đáo yêu thương. Thế nhưng "ván đã đóng thuyền" từ trong kháng chiến, bà nhà là "Oredin" Thanh Hóa).
Thời trẻ tôi cũng được nhiều người khen đẹp trai. Cũng có nhiều người mê, nhưng mình giữ cho mình, cho họ nên không bao giờ đi quá ngưỡng cho phép.--PageBreak--
- Nếu bây giờ vẫn có người phụ nữ mê ông thì sao?
- (Không ngờ tôi nói vui lại làm ông hứng khởi) Cũng có đấy, nhưng chỉ coi như bạn thôi.
- Cái tên Nguyễn Vinh Phúc đã thành một thương hiệu. Ông có cảm nhận được mọi người coi mình là người nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu về Hà Nội không?
- Tôi không nghĩ mình là người nổi tiếng và cũng không muốn như thế mà muốn sống một cách giản dị. Người Pháp có câu: "Muốn sống sung sướng hãy giấu mình đi”. Tôi chiêm nghiệm câu tục ngữ đó và thấy rất đúng. Tôi chỉ nghĩ rằng mình đã có những đóng góp cho văn hóa Hà Nội, lịch sử Hà Nội. Trong các bài nghiên cứu, tôi cố gắng có những phát hiện mới, dù rằng phát hiện đó có thể nhỏ bé, nhưng tôi luôn muốn mang đến những điều mới mẻ, lý thú.
- Ông đã viết hàng chục tác phẩm về Hà Nội, vậy để chọn tác phẩm tâm đắc, ông sẽ chọn tác phẩm nào?
- Cuốn "Đường phố Hà Nội" là cuốn tôi tâm đắc, ở đó có những phát hiện, cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết về phố và đường Hà Nội - nơi mà họ đang sinh sống. Gần đây có cuốn "Hà Nội cõi đất, con người" và cuốn "Hà Nội phong tục, văn chương" viết về dải đất và con người Hà Nội, tìm ra được tên gọi của 36 phường, khẳng định được các cửa ô. Người ta vẫn thường nói Hà Nội có 5 cửa ô, nhưng tôi khẳng định số lượng cửa ô thay đổi theo từng thời đại: đời nhà Lê có 8 cửa ô, thời Minh Mạng có 16 cửa ô, thời Tự Đức có 15 cửa ô.
Cũng trong "Hà Nội cõi đất, con người" tôi phân tích, lý giải tên gọi của nó xưa và nay từng gọi sai thế nào. Còn về phong tục thì cố gắng đi sâu vào phong tục Hà Nội. Làm gì có phong tục riêng của Hà Nội, phong tục Hà Nội là phong tục Việt Nam, nhưng về Hà Nội được nâng cao lên thành những sắc thái tinh hoa của người Hà Nội.
- Viết nhiều sách như thế, thu nhập từ viết sách có nuôi sống ông và gia đình không?
- Thời kỳ những năm 60-70, việc viết sách báo góp phần cải thiện đáng kể đời sống. Hồi đó 4-5 nghìn đồng/bài báo, mà 4-5 nghìn đồng mua được con vịt rồi. Tuần nào tôi cũng có bài in trên các trang báo. Bây giờ tiền viết sách không đáng kể gì, tác giả được trả cao nhất là 13%, nhưng tia-ra thì ít, sách nghiên cứu chỉ in 1.000-2.000 cuốn là cùng. Nghề viết sách hiện nay chỉ góp phần cải thiện cuộc sống thôi.
- Công việc viết sách như ông thì phải có đến hàng nghìn trang bản thảo, nhưng ông dường như là người luôn nói không với công nghệ thông tin?
- Những thủ thuật với máy móc tôi rất chậm và thấy phức tạp. Tôi viết thường phải sửa nhiều nên thấy viết tay là tiện nhất. Nhưng việc đi thuê đánh bản thảo cũng tốn khối tiền đấy. Tôi cũng chỉ định viết 1-2 cuốn nữa thôi nên chẳng có ý định học đánh vi tính.
- Hiểu cặn kẽ về vùng đất, con người Hà Nội thời xưa, thế bây giờ dưới con mắt ông, nam thanh nữ tú Hà Nội thế nào?
- Trong cuốn "Hà Nội phong tục, văn chương" phần mở đầu nói về cơ sở phong tục, tôi nói rằng đã có cơ sở khác nảy sinh trong thời kỳ hội nhập này, nhất là bây giờ phương tiện thông tin rất nhanh nhạy. Tuổi trẻ tiếp nhận thông tin nhanh là điều rất quý nhưng thiếu sàng lọc. Học đường bây giờ không được nề nếp như xưa nữa. Học trò đánh nhau đã là quá đáng, nhưng học trò đánh thầy cô giáo là chuyện không bao giờ xảy ra ngày trước. Nguyên nhân do cha mẹ mải việc, khoán trắng cho nhà trường, xã hội để chúng hồn nhiên lớn. Trong trường sư phạm chưa có khoa đào tạo giáo viên dạy môn Giáo dục công dân. Hiện nay học sinh tiếp thu vội vã lối sống hiện đại, không được uốn nắn nên sinh ra những lộn xộn trong xã hội và trong học đường.
- Cả một đời nghiên cứu về Hà Nội, vốn liếng tư liệu sách vở rất nhiều, ông đã tìm được ai để truyền lại khi sau này không còn điều kiện nghiên cứu?
- Điều tôi băn khoăn nhất lúc này là chưa tìm được ai nhiệt tình với "món" Hà Nội học. Phải nghiên cứu tích lũy bao nhiêu năm tháng mới viết được bài báo, cao lắm chỉ vài trăm đến 1 triệu đồng. In 1 cuốn sách thì cũng chỉ được trên dưới 10 triệu đồng. Điều đó khiến không mấy ai thích đi vào làm nghiên cứu. Tôi đang lo rằng, một mai hàng vài nghìn cuốn sách sưu tầm, tích cóp bao năm sẽ theo các bà chè chai ra phố.
Mải vui chuyện, đồng hồ đã sang quá giờ Ngọ. Tôi vội vã chia tay ông, bước ra mặt đường Ngô Quyền, mang theo lòng kính trọng về một con người cả đời đam mê đã mang đến bao điều bổ ích cho người đọc bằng những tác phẩm tâm huyết của mình